Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

[VPLUDVN] Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn mới được quy định trong BLTTHS năm 2015. Thực chất, đây là biện pháp nhằm thay thế cho biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp (bắt khẩn cấp) đã được quy định tại Điều 81 BLTTHS năm 2003. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ chỉ ra những hạn chế vướng mắc, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp này.

1. Quy định cụ thể

Như đã đề cập, giữ người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp thay thế biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Trước đây, theo quy định của BLTTHS năm 2003 thấy rằng, quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp là chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Chính vì vậy, nhằm đảm bảo phù hợp với quy định của Hiến pháp, đồng thời đáp ứng thực tiễn đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như để đảm bảo và nâng cao các giá trị quyền con người, Điều 110 BLTTHS năm 2015 đã quy định biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Có thể thấy BLTTHS năm 2015 đã quy định tương đối chi tiết về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cụ thể là các quy định liên quan đến các trường hợp hay nói cách khác là các căn cứ giữ người[1]; Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp[2] và Thủ tục giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp khoản 4 Điều 110)[3]. Có thể nói những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS.

2. Vướng mắc và kiến nghị

Qua nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp tác giả nhận thấy quy định này còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc cần phải được hoàn thiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền giữ người trong trường hợp khẩn cấp

Khoản 2 Điều 117 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ”.

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 110 quy định về thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp như sau: “a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.”[4]. Xem xét quy định này cho thấy, những chủ thể được quy định tại điểm a và điểm b là những chủ thể thuộc cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Tuy nhiên, việc pháp luật cho phép các chủ thể ở điểm c khoản 2 Điều 110 như: “c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng” được quyền ra lệnh tạm giữ là không hợp lý. Bởi lẽ:

Một là, các chủ thể này không thuộc những chủ thể được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra theo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

Hai là, nếu như BLTTHS năm 2015 đặc cách cho các chủ thể này có quyền ra lệnh tạm giữ thì những chủ thể này ra lệnh tạm giữ trong trường hợp nào? Bởi vì, theo quy định tại Điều 117 thì khi rơi vào những trường hợp sau mới được giữ người đó là “Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.”

Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, thì tại khoản 4 Điều 110 quy định: “Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.”. Nếu những chủ thể tại điểm c khoản 2 phải giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngay sau khi cập bến thì không thể ra quyết định tạm giữ được.

Nếu như chủ thể tại điểm c khoản 2 Điều 110 có quyền ra lệnh giữ người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hay người bị bắt theo quyết định truy nã thì lại mâu thuẫn với Điều 111 và Điều 112. Cụ thể, khoản 1 Điều 111 quy định: “Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”.

Còn tại khoản 1 Điều 112 quy định: “Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”. Như vậy, công việc đầu tiên khi bắt người đang bị truy nã hoặc phạm tội quả tang là giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất chứ không quy định được phép tạm giữ trong trường hợp này. Còn đối với trường hợp người phạm tội tự thú hoặc đầu thú với những chủ thể quy định tại điểm c khoản 2 cũng không phải là những cơ quan, tổ chức để người phạm tội đến tự nguyện khai báo hành vi của mình. Nên quy định tất cả những chủ thể tại điểm c khoản 2 Điều 110 được quyền ra lệnh tạm giữ là không hợp lý.

Theo tác giả, nên sửa đổi quy định ở khoản 2 Điều 117 theo hướng như sau: “Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ”.

Cũng liên quan tới việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong trường hợp tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng, theo quy định tại khoản 3 Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113. Theo đó, khi tiến hành giữ người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người. Với quy định này, trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện đúng quy định của BLTTHS năm 2015 về người chứng kiến (trên tàu bay, tàu biển không thể có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường thị trấn). Do đó, tác giả kiến nghị cần quy định: “Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời khỏi sân bay, bến cảng phải có sự chứng kiến của người có mặt trên tàu bay, tàu biển đó”.

Thứ hai, chưa có sự thống nhất giữa quy định tại Điều 109 và Điều 110 của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn. Cụ thể như sau:

Khoản 1 Điều 109 quy định: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.”.

Như vậy, biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và biện pháp bắt người là hai biện pháp ngăn chặn độc lập với nhau. Và đối với biện pháp bắt lại được chia thành 5 trường hợp tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2015: “2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.”.

Qua đó, có thể thấy bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp của biện pháp bắt người hoàn toàn độc lập với biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, Điều 110 BLTTHS năm 2015 với tên gọi của điều luật là “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”, lại điều chỉnh hai nội dung đó là về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (khoản 4 Điều 110).

Theo tác giả, quy định như vậy là chưa hợp lý. Xét về mặt kỹ thuật lập pháp việc quy định gộp 2 biện pháp ngăn chặn nhưng lại chung một điều luật là chưa phù hợp. Hơn nữa, tên gọi của điều luật chưa bao hàm hết được nội dung của điều luật. do đó, nên sửa đổi quy định tại Điều 110 thành “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”.

Ngoài ra, có tác giả đã đặt ra vấn đề về sự cần thiết của biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Bởi vì, theo quy định của Điều 110 BLTTHS năm 2015, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người có thẩm quyền phải ra quyết định tạm giữ, lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người bị giữ. Theo quy định tại Điều 117, biện pháp tạm giữ được áp dụng với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, ngoài việc ra quyết định tạm giữ, người có thẩm quyền còn phải ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp? Theo Công văn số 5024/VKSTC-V14 thì quyết định tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được ra trước hoặc cùng với lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Nếu quyết định tạm giữ được ra trước hay đồng thời với lệnh bắt thì theo quy định kể từ khi có quyết định tạm giữ, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đã có tư cách tham gia tố tụng là người bị tạm giữ tại Điều 59 BLTTHS năm 2015. Bởi vì, quyết định tạm giữ không đòi hỏi phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn mới có hiệu lực pháp luật. Như  vậy, có dẫn đến việc bắt người bị tạm giữ hay không?

Về vấn đề này, tác giả Vũ Minh Phương có quan điểm cho rằng: “Với quy định như hiện nay dẫn tới tư cách tham gia tố tụng của người này không còn là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nữa mà đã chuyển thành người bị tạm giữ nên không thể định danh trường hợp bắt này là bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”[5]. Tôi cũng đồng tình với quan điểm này. Bởi vì, quy định như trên đang tạo ra mâu thuẫn về tư cách pháp lý tham gia tố tụng của người bị bắt, đồng thời ít nhiều gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật và quyết định xử lý sau khi giữ người hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Để giải quyết vấn đề này hiện nay cần bỏ trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Phương án này xuất phát từ việc xác định tính cần thiết của biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp như đã phân tích ở trên. Rõ ràng sự xuất hiện của biện pháp này gây khó khăn, lúng túng cho việc xác định bản chất pháp lý nó. Đặt trong tổng thể các quy định của BLTTHS năm 2015 thì bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp dường như thiếu sự liên kết với các chế định khác.

Theo Điều 16 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP  ngày 19/10/2018 quy định cụ thể về việc phê chuẩn lệnh tạm giam trong trường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can: “Trường hợp khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì chậm nhất 24 giờ trước khi hết thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ, Cơ quan điều tra phải chuyển hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam cho Viện kiểm sát cùng cấp. Khi hồ sơ đã chuyển cho Viện kiểm sát để xét phê chuẩn, nếu có chứng cứ, tài liệu bổ sung thì Cơ quan điều tra phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát. Việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can được tiến hành cùng với việc xét phê chuẩn lệnh tạm giam bị can.”[6].

Theo quy định này, trong trường hợp đang áp dụng biện pháp tạm giữ, nếu xét thấy có căn cứ và cần thiết thì Cơ quan điều tra có thể ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam và chuyển tài liệu, hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Vì vậy, để khắc phục bất cập về thời hạn áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và sự mâu thuẫn trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị giữ khi có lệnh bắt đối với họ như đã phân tích, BLTTHS năm 2015 cần sửa đổi theo hướng bỏ quy định về trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Theo đó, sau khi “giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp…[7]” người có thẩm quyền chỉ phải ra quyết định “tạm giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó”.

Thứ ba, hiện nay BLTTHS không quy định việc khi cơ quan có thẩm quyền quyết định trả tự do cho người bị giữ thì có cần phải gửi lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định trả tự do và những tài liệu có liên quan cho Viện Kiểm sát hay không? Điều này gây ra nhiều cách hiểu khác nhau và lúng túng trong áp dụng pháp luật.

Tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Vũ Minh Phương khi cho rằng: “Cần bổ sung quy định gửi hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc trả tự do cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cho Viện kiểm sát”[8]. Bởi lẽ, việc bổ sung quy định này sẽ đảm bảo sự thống nhất về nhận thức và thực tiễn áp dụng. Đồng thời, việc làm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Viện kiểm sát thực hiện chức năng “kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người”, vừa đảm bảo sự nhất quán giữa các quy định của BLTTHS năm 2015 về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng, vừa đảm bảo sự khách quan, hợp lý, có căn cứ khi áp dụng biện pháp này. Đồng thời, qua đó góp phần đảm bảo các giá trị về quyền con người, quyền công dân trong quá trình tố tụng hình sự.

Trên đây là một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp./.


[1] Khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015

[2] Khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015

[3]  Khoản 3 Điều 110 BLTTHS năm 2015

[4] Khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015

[5] Vũ Minh Phương, “tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp”, Tạp chí An ninh nhân dân, số 98 (7/2020), Tr.97-99.

[6] Khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch Số: 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

[7] Khoản 4 Điều 110 BLTTHS năm 2015

[8] Vũ Minh Phương, tlđd (4), Tr.98

ThS NGUYỄN VIẾT TĂNG (Giảng viên Khoa Luật, Đại học An ninh nhân dân)

Nguồn: Tapchitoaan.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đánh giá *