150 câu hỏi lý thuyết Luật dân sự 2 (có đáp án)

CHƯƠNG VI: NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Câu 1: Trình bày khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ?

Đáp án:

  • Khái niệm:

Nghĩa vụ được định nghĩa tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

“Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thế khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

  • Đặc điểm:

Nếu nhìn nhận nghĩa vụ ở trạng thái là một quan hệ pháp luật dân sự thì so với các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ nghĩa vụ có một số đặc điểm sau đây:

– Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý giữa ít nhất là hai người đứng về hai phía chủ thể khác nhau.

Dù được hình thành theo thoả thuận hay theo luật định thì nghĩa vụ luôn là sự ràng buộc giữa các bên về việc phải làm hay không được làm một việc nhất định. Bên phải làm một công việc nếu không làm sẽ phải gánh chịu chế tài của luật. Tuỳ từng trường hợp, mỗi bên trong nghĩa vụ có thể có nhiều người hoặc nhiều chủ thể khác tham gia nhưng cũng có thể mỗi một bên chỉ có một người tham gia.

– Thứ hai, quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau một cách tương ứng và chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định.

Nghĩa vụ và quyền luôn đi đôi với nhau, nói đến quyền là nói đến nghĩa vụ. Tuy nhiên, nói đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nghía vụ là nói đến sự đối lập, tính tương ứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Nói một cách cụ thể hơn, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bên này có bao nhiêu quyền với phạm vi bao nhiêu thì bên kia sẽ có bấy nhiêu nghĩa vụ với phạm vi tương ứng. Mặt khác, trong quan hệ nghĩa vụ, cả chủ thể mang quyền, cả chủ thể mang nghĩa vụ luôn luôn được xác định một cách cụ thể nên quyền của bên này chỉ là nghĩa vụ của bên kia. Nói cách khác, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ này không liên quan đến người khác ngoài các chủ thể đã được xác định cụ thể. Trong một số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này có thể liên quan đến người thứ ba nhưng người thứ ba đó phải là người đã được xác định cụ thể trước.

– Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền của các bên chủ thể là quyền đối nhân.

Nếu trong quan hệ sở hữu, quyền của chủ thể mang quyền được thực hiện bằng hành vi của chính họ thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bên này lại được thực hiện thông qua hành vi của chủ thể phía bên kia. Nói cách khác, quyền của bên này chỉ được đáp ứng khi bên kia đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ.Mặt khác, nếu việc thực hiện quyền trong quan hệ sở hữu là việc tác động trực tiếp đến vật thì trong nghĩa vụ dân sự người mang quyền dân sự không được tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa vụ. Khi người mang nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền chỉ có thể sử dụng các phương thức mà pháp luật đã quy định để tác động và yêu cầu người đó phải thực hiện nghĩa vụ cho mình. Nói cách khác, trong nghĩa vụ, quyền của người này là đối với người có nghĩa vụ bên kia chứ không đối với tài sản của họ.

Câu 2: Căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Đáp án:

Điều 275 Bộ luật dân sự 2015, Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ bao gồm:

2.1. Hợp đồng:

Hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, cho thuê, mượn tài sản hoặc về việc thực hiện một công việc, theo đó làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong hợp đồng. Với tính chất này, khi các bên thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau thì đây sẽ là căn cứ hình thành nghĩa vụ.

2.2. Hành vi pháp lý đơn phương:

Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi của cá nhân thể hiện ý chí tự do, tự nguyện, tự định đoạt của bản thân nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi một người thực hiện một hành vi pháp ký đơn phương thì có thể làm phát sinh nghĩa vụ của người đó với người khác hoặc phát sinh nghĩa vụ của người khác với người thứ ba.

2.3. Thực hiện công việc không có ủy quyền:

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

2.4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:

Khi một người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của người đó kể từ khi người đó có khoản lợi trong tay. Từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc được lợi thì phải hoàn trả khoản lợi mà mình đã thu được.

2.5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật:

Thực hiện hành vi gây thiệt hại trái pháp luật sẽ phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại. Trong quan hệ này, bên gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên bị thiệt hại.

2.6. Căn cứ khác do pháp luật quy định:

Trường hợp này do pháp luật khác quy định, để tránh sự bỏ sót phát sinh trong thực tiễn. Đó là những căn cứ pháp lý do pháp luật quy định điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể trong quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự. 

Câu 3: Trình bày các loại đối tượng của nghĩa vụ?

Đáp án:

Điều 276 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“1. Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.

  1. Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định”.

Từ quy định trên cho thấy, đối tượng của nghĩa vụ có thể là:

– Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản:

Đa phần các nghĩa vụ dân sự đều có đối tượng là tài sản. Tài sản trong luật dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là những vật có thực mà còn bao gồm cả tiền, các giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Tài sản là vật có thể là động sản hoặc bất động sản, có thể là vật chia được hoặc là vật không chia được, có thể là vật cùng loại hoặc vật đặc định, có thể là vật được xác định theo chủng loại hay được xác định là vật đồng bộ. Tuỳ theo tính chất của từng loại tài sản cụ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mà các bên thoả thuận để xác định nội dung của quan hệ nghĩa vụ. Vật là đối tượng của nghĩa vụ có thể là vật hiện hữu (vật có thực), có thể là vật được hình thành trong tương lai.

– Đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải làm:

Công việc phải làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu từ một công việc được nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo đó, người có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định.

Công việc phải làm có thể được hoàn thành với một kết quả nhất định nhưng cũng có thể không gắn liền với một kết quả (do các bên thoả thuận hoặc do tính chất của công việc). Mặt khác, kết quả của công việc phải làm có thể được biểu hiện dưới dạng một vật cụ thể nhưng cũng có thể không biểu hiện dưới dạng một vật cụ thể nào (các loại dịch vụ).

Thông thường, các quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là công việc phải làm là những quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng mang tính dịch vụ như họp đồng vận chuyển, hợp đồng gửi giữ tài sản…

– Đối tượng của nghĩa vụ là công việc không được làm:

Công việc không được làm là đối tượng của nghĩa vụ trong những trường hợp các bên từ công việc đó xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ, theo đó một bên có nghĩa vụ không được thực hiện công việc theo nội dung mà các bên đã xác định.

Ví dụ: Hai người có bất động sản liền kề nhau thoả thuận một bên nhận ở bên kia một khoản tiền và cam kết không xây dựng nhà trên đất của mình để khỏi che lấp nhà của bên kia (thời hạn không được xây nhà được xác định theo thoả thuận của hai bên).

Câu 4: Điều kiện đối với đối tượng của nghĩa vụ?

Đáp án:

Qua việc xem xét đối tượng của nghĩa vụ dân sự ở các dạng cụ thể thì một tài sản, một công việc phải làm hoặc một công việc không được làm chỉ được coi là đối tượng của nghĩa vụ dân sự khi chúng thoả mãn các điều kiện sau đây:

– Phải đáp ứng được lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền:

Thông thường, lợi ích mà chủ thể có quyền hướng tới là một lợi ích vật chất (vật cụ thể, khoản tiền v.v.) nhưng cũng có thể là một lợi ích tinh thần.

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là một vật cụ thể thì vật đó phải mang đầy đủ các thuộc tính của hàng hoá (giá trị và giá trị sử dụng). Nếu đối tượng của nghĩa vụ là công việc thì việc phải làm hoặc việc không được làm phải hướng tới lợi ích của người có quyền. Khi làm hoặc không làm công việc đó sẽ đem đến cho bên kia lợi ích nhất định.

– Phải được xác định hoặc có thể xác định được:

Khi các bên giao kết hợp đồng để từ đó xác lập quan hệ nghĩa vụ đối với nhau, phải xác định rõ đối tượng của nghĩa vụ là công việc hay vật gì. Trong trường hợp nghĩa vụ được thiết lập theo quy định của pháp luật thì đối tượng đã được pháp luật xác định rõ trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ ấy.

Nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật thì các bên phải xác định rõ về số lượng, trọng lượng, khối lượng, tính chất, tình trạng của tài sản thông qua việc kiểm đếm và các giấy tờ liên quan (nếu có). Nếu là tài sản hình thành trong tương lai thì phải có các giấy tờ liên quan xác định cụ thể về tài sản đó và các căn cứ để chứng minh tài sản đó chắc chắn sẽ hình thành và khi hình thành sẽ thuộc sở hữu của một trong các bên. Nếu là giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản thì bên đưa tài sản đó làm đối tượng của nghĩa vụ phải có đầy đủ bằng chứng chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu của mình.

– Đối tượng của nghĩa vụ có thể thực hiện được:

Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là việc không thể thực hiện được sẽ không thoả mãn được lợi ích của chủ thể có quyền. Vì vậy, nếu đối tượng là tài sản thì phải là những tài sản có thể đem giao dịch được, nếu là công việc thì phải là những công việc có thể thực hiện được.

Câu 5: Nêu nội dung nghĩa vụ một người?

Đáp án:

Nghĩa vụ một người là nghĩa vụ mà trong đó, mỗi bên chủ thể chỉ có một người tham gia. Nghĩa vụ một người chỉ tồn tại ở một dạng duy nhất là: Một người có nghĩa vụ đối với một người có quyền. Vì vậy, việc xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong các quan hệ nghĩa vụ này hết sức đơn giản bởi theo đặc điểm của nghĩa vụ thì quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Tuy nhiên, nếu là quan hệ song vụ thì cần xác định ai là người có quyền, ai là người có nghĩa vụ tương ứng với từng hành vi cụ thể.

Câu 6: Trình bày quy định nghĩa vụ nhiều người?

Đáp án:

Nghĩa vụ nhiều người là nghĩa vụ mà trong đó, một bên chủ thể có nhiều người tham gia.

Nghĩa vụ nhiều người có thể là một trong các dạng sau:

– Nhiều người có nghĩa vụ đối với một người có quyền;

– Nhiều người có quyền đối với một người có nghĩa vụ;

– Nhiều người có nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền.

Trong những trường hợp này, cần phải xác định rõ phạm vi quyền yêu cầu của mỗi một người có quyền đối với người có nghĩa vụ, cũng như phạm vi nghĩa vụ mà từng người có nghĩa vụ phải thực hiện trước người có quyền. Mặt khác, cần phải xác định giữa những người có nghĩa vụ hoặc giữa những người có quyền có mối liên quan như thế nào trong quá trình cùng nhau thực hiện nghĩa vụ hoặc cùng nhau hưởng quyền. Vì vậy, đối với các quan hệ nghĩa vụ nhiều người cần phải xác định là nghĩa vụ riêng rẽ hay nghĩa vụ liên đới.

Câu 7: Quy định của pháp luật về nghĩa vụ dân sự riêng rẽ?

Đáp án:

Điều 287 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình”.

Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ là loại nghĩa vụ nhiều người, trong đó mỗi một người trong số những người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình hoặc mỗi người trong số những người có quyền chỉ có thể yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho riêng phần quyền của mình.

Bản chất của loại nghĩa vụ này là không có sự liên quan lẫn nhau giữa những người cùng thực hiện nghĩa vụ, cũng như không có sự liên quan trong việc thực hiện quyền yêu cầu của những người có quyền. Nếu nhiều người có nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xác định thành từng phần và mỗi người thực hiện nghĩa vụ theo phần của mình một cách riêng rẽ. Người nào thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì quan hệ nghĩa vụ giữa người đó với người có quyền sẽ chấm dứt (họ không phải chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ mà những người có nghĩa vụ khác chưa thực hiện). Nếu nhiều người có quyền thì mỗi người chỉ có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho riêng phần quyền của mình (không được phép yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ). Khi một trong số những người có quyền đó nhận được sự thực hiện nghĩa vụ đối với phần quyền cuả mình thì quan hệ nghĩa vụ giữa người đó với người có nghĩa vụ được coi là chấm dứt. Quan hệ nghĩa vụ giữa người có nghĩa vụ với những người có quyền khác vẫn tồn tại và vẫn có hiệu lực.

Câu 8: Quy định của pháp luật về nghĩa vụ liên đới?

Đáp án:

Để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một số trường hợp, nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa vụ dân sự liên đới nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Mục đích của việc xác định một nghĩa vụ liên đới khi có nhiều người tham gia quan hệ nghĩa vụ là buộc những người có nghĩa vụ phải cùng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền lợi cho chủ thể có quyền được trọn vẹn, kể cả khi có một trong số những người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trong quan hệ nghĩa vụ liên đới, những người có nghĩa vụ luôn luôn liên quan với nhau trong cả quá trình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền yêu cầu của những người có quyền luôn được coi là một thể thống nhất.

Nghĩa vụ dân sự liên đới là loại nghĩa vụ nhiều người, trong đó, một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ hoặc một trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Câu 9: Trình bày nội dung nghĩa vụ theo phần?

Đáp án:

Đối tượng của nghĩa vụ dân sự hết sức đa dạng, mỗi loại đối tượng cụ thể có những đặc điểm và tính chất khác nhau. Do đó, tuỳ thuộc đối tượng như thế nào mà nghĩa vụ dân sự đó có thể là nghĩa vụ phân chia được theo phần hoặc là nghĩa vụ không phân chia được theo phần.

Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật được xác định và vật đó là vật không chia được hoặc đối tượng là một công việc mà theo tính chất công việc đó phải được thực hiện cùng một lúc thì được gọi là nghĩa vụ không phân chia được theo phần. Ngược lại, nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật chia được hoặc công việc có thể thực hiện theo từng phần khác nhau thì được gọi là nghĩa vụ phân chia được theo phần (nghĩa vụ theo phần).

Câu 10: Trình bày quy định của pháp luật về nghĩa vụ hoàn lại?

Đáp án:

Luật thực định không có định nghĩa về nghĩa vụ hoàn lại. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, từ quy định của pháp luật đã làm hình thành một nghĩa vụ mới sau một nghĩa vụ trước đó. Chẳng hạn tại khoản 2 Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định: “Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình”.

Trong khoa học pháp lí, thuật ngữ nghĩa vụ hoàn lại được dùng để chỉ những nghĩa vụ phát sinh từ một nghĩa vụ khác. Vì vậy, nghĩa vụ hoàn lại có thể được hiểu như sau:

Nghĩa vụ hoàn lại là một quan hệ nghĩa vụ, trong đó một bên có quyền yêu cầu bên kia (người có nghĩa vụ) thanh toán lại khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà người có quyền đã thay người có nghĩa vụ thực hiện cho người khác hoặc một bên có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên có quyền khoản tiền hay lợi ích vật chất mà họ đã nhận được từ người khác trên cơ sở quyền yêu cầu của bên có quyền.

Thông thường, từ một nghĩa vụ dân sự liên đới có thể làm phát sinh nghĩa vụ hoàn lại theo một trong hai Trường hợp sau đây:

– Khi một trong số những người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì người đó trở thành người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại, có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thanh toán cho mình khoản tiền hoặc lợi ích vật chất mà người đó đã bỏ ra để thay họ thực hiện cho người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới trước đó.

– Khi một trong số những người có quyền liên đới đã nhận việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ thì người đó trở thành người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại. Người đã nhận việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ có nghĩa vụ hoàn lại cho mỗi người có quyền liên đới khác khoản lợi ích vật chất mà người này đã thay họ để nhận từ người có nghĩa vụ trong nghĩa vụ dân sự liên đới trước đó.

Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật dân sự, nghĩa vụ hoàn lại còn phát sinh trong các trường hợp sau:

– Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh từ một nghĩa vụ trước trong trường hợp nghĩa vụ trước có thỏa thuận biện pháp bảo lãnh. Trường hợp này được quy định tại Điều 340 Bộ luật dân sự năm 2015:“Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ Trường hợp có thoả thuận khác”.

– Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh giữa người của pháp nhân với pháp nhân sau khi pháp nhân đã bồi thường cho người bị thiệt hại do người của pháp nhân gây ra được quy định tại Điều 597 Bộ luật dân sự năm 2015: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.

– Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh giữa người thi hành công vụ theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo luật này, người thi hành công vụ gây thiệt hại phải hoàn lại cho ngân sách nhà nước một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

– Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh giữa người làm công, học nghề với chủ làm công, dạy nghề sau khi chủ làm công, dạy nghề đã bồi thường cho người bị thiệt hại do người làm công gây ra trong khi thực hiện công việc được giao.

Câu 11: Nêu một số đặc điểm của nghĩa vụ hoàn lại?

Đáp án:

Nghĩa vụ hoàn lại mang một số đặc điểm sau đây:

– Thứ nhất, nghĩa vụ hoàn lại bao giờ cũng phát sinh từ một nghĩa vụ cơ bản khác. Nó không thể phát sinh với ý nghĩa là một nghĩa vụ đầu tiên.

– Thứ hai, trong nghĩa vụ hoàn lại bao giờ cũng có một người liên quan đến cả hai quan hệ nghĩa vụ. Người đó, nếu là người đã thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ trước thì trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại họ là người có quyền. Ngược lại, nếu trong quan hệ trước đó họ là người đã hưởng quyền thì ở nghĩa vụ hoàn lại họ là người có nghĩa vụ.

– Thứ ba, nếu nghĩa vụ hoàn lại là nghĩa vụ nhiều người thì theo nguyên tắc, nghĩa vụ đó được xác định là nghĩa vụ riêng rẽ. Người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại chỉ có thể đòi từng người có nghĩa vụ hoàn lại cho mình phần mà mình đã thực hiện thay cho người đó. Nếu một người đã hưởng quyền dân sự trên cơ sở quyền yêu cầu của nhiều người thì mỗi người trong số họ chỉ có quyền yêu cầu người đó hoàn lại cho phần quyền của riêng mình.

Câu 12: Nội dung của nghĩa vụ bổ sung?

Đáp án:

Thuật ngữ “bổ sung” cho thấy chức năng của nghĩa vụ này là thực hiện phần nội dung của nghĩa vụ chính trước đó khi đến thời hạn mà nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ. Như vậy, nghĩa vụ bổ sung bao giờ cũng có mối liên quan đối với một nghĩa vụ chính. Nói cách khác, nghĩa vụ bổ sung làm cho quyền và nghĩa vụ dân sự không chỉ là mối liên hệ giữa hai bên trong một quan hệ nghĩa vụ mà còn liên quan đến cả người thứ ba.

Khoa học pháp lý dùng thuật ngữ nghĩa vụ bổ sung để chỉ nghĩa vụ của người thứ ba đối với người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính. Người thứ ba chỉ có nghĩa vụ khi có sự thoả thuận giữa họ với người có quyền hoặc trong những trường hợp mà pháp luật quy định.

Chẳng hạn, sự thoả thuận giữa các bên trong quan hệ bảo lãnh là căn cứ làm xuất hiện một nghĩa vụ bổ sung. Trong trường hợp này, bên cạnh quan hệ nghĩa vụ giữa người có quyền với người có nghĩa vụ (được gọi nghĩa vụ chính) còn có mối quan hệ nghĩa vụ giữa người có quyền với người bảo lãnh (gọi là nghĩa vụ bổ sung). Xét về mối liên quan giữa nó với nghĩa vụ chính thì nghĩa vụ này còn được gọi là nghĩa vụ phụ. Vì rằng người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ chính không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ. Mặt khác, hiệu lực của loại nghĩa vụ này phụ thuộc vào hiệu lực của nghĩa vụ chính. Ví dụ: Nếu hợp đồng cho vay bị coi là vô hiệu thì vấn đề bảo lãnh cũng bị coi là vô hiệu (trừ trường hợp hợp đồng vay tài sản đã được thực hiện).

Câu 13: Quy định chung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Đáp án:

Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đẩy đủ các nghĩa vụ mà họ đã cam kết, thì người có quyền có thể áp dụng biện pháp bảo đảm nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp để buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết nhằm bảo đảm quyền lợi cho mình.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều mang tính chất dự phòng và luôn tổn tại kèm theo một nghĩa vụ chính nên chỉ được áp dụng khi bên có nghĩa vụ đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ chính mà họ đã tự nguyện cam kết. Tùy từng trường hợp và tùy thuộc vào việc cam kết, thỏa thuận, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có những quy chế xử lý khác nhau. Bộ luật dân sự quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự sau đây: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm. Mỗi biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có đặc trưng và bản chất pháp lý khác nhau.

Câu 14: Quy định của pháp luật hiện hành về xác lập nghĩa vụ?

Đáp án:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nghĩa vụ được xác lập theo một trong các căn cứ sau đây:

  1. Xác lập nghĩa vụ theo hợp đồng dân sự:

Nghĩa vụ dân sự được phát sinh khi các chủ thể thiết lập với nhau một hợp đồng dân sự. Ví dụ: Hai bên giao kết hợp đồng mua bán tài sản thì tại thời điểm hợp đồng đó được coi là có hiệu lực pháp luật sẽ làm hình thành giữa hai bên các nghĩa vụ giao vật, trả tiền … Tuy nhiên, hợp đồng dân sự chỉ làm phát sinh nghĩa vụ nếu đó là một hợp đồng có hiệu lực (các bên giao kết hợp đồng phải tuân theo các điều, kiện mà pháp luật quy định đối với một hợp đồng).

Trong thực tế, khi hợp đồng vô hiệu, các bên có nghĩa vụ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (trừ trường hợp tài sản là đối tượng của hợp đồng và các khoản lợi có được từ hợp đồng bị tịch thu theo quy định của pháp luật). Vì vậy, có quan điểm cho rằng, hợp đồng vô hiệu cũng làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận khi hợp đồng vô hiệu là nghĩa vụ phát sinh từ quy định của pháp luật về giải quyết hậu quả của một hợp đồng vô hiệu. Nghĩa vụ này hoàn toàn không phải là sự thoả thuận giữa các bên nên không phải là nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.

  1. Xác lập nghĩa vụ theo hành vi pháp lí đơn phương:

Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm qua đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đây là một loại giao dịch dân sự, trong đó chỉ biểu hiện ý chí đơn phương của một bên. Vì vậy có làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ dân sự hay không còn phụ thuộc vào sự tiếp nhận ý chí này của những người khác (những người sẽ là chủ thể phía bên kia của giao dịch dân sự đó).

Hành vi pháp lí đơn phương chỉ làm phát sinh một nghĩa vụ khi ý chí đã thể hiện trong đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đồng thời nếu sự thể hiện ý chí đó có kèm theo một số điều kiện nhất định thì chỉ khi nào những người khác thực hiện đúng các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên.

  1. Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:

Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của một người chỉ được pháp luật thừa nhận và bảo đảm nếu người đó là chủ sở hữu của tài sản hoặc là người được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu hay người đó là người được phép chiếm hữu, sử dụng tài sản trong các trường hợp do pháp luật quy định. Vì vậy, ngoài những người nói trên, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản sẽ bị coi là không có căn cứ pháp luật và do đó sẽ làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ mà trong đó, người chiếm hữu, sử dụng tài sản có nghĩa vụ phải trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.

Nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phát sinh kể từ khi người được lợi có khoản lợi đó trong tay. Từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc được lợi thì phải hoàn trả khoản lợi mà mình đã thu được.

  1. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật:

Khi một người thực hiện một hành vi ttái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh sự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người khác sẽ làm phát sinh một quan hệ luật dân sự, trong đó người có những hành vi nói trên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho phía bên kia. Nghĩa vụ này còn gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, về mặt nội dung, quan hệ bồi thường thiệt hại được xác định là một nghĩa vụ dân sự vì trong đó có thể hiện quá trình dịch chuyển lợi ích vật chất từ chủ thể này sang chủ thể khác. Khoản lợi ích mà người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường bao giờ cũng được xác định thành một khoản vật chất (tiền hoặc lợi ích vật chất khác).

về hình thức, quan hệ bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm dân sự, một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý nói chung. Vì vậy, khi việc bồi thường thiệt hại được thực hiện dưới dạng một trách nhiệm dân sự, phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng bảng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Trong đó, người có hành vi trái pháp luật phải gánh chịu một hậu quả bất lợi về tài sản.

  1. Thực hiện công việc không có uỷ quyền:

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó hoàn toàn vì lợi ích của người khác khi người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối.

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự giữa người thực hiện công việc với người được thực hiện công việc, trong đó người được thực hiện công việc có nghĩa vụ thanh toán các chi phí hợp lí mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc đồng thời phải trả thù lao cho người thực hiện công việc. Tuy nhiên, nếu người đã thực hiện công việc không yêu cầu thanh toán cũng như không yêu cầu trả thù lao thì người được thực hiện công việc không phải thực hiện các nghĩa vụ này.

Nếu một người thực hiện một công việc vì lợi ích của người khác nhưng công việc đó không phù hợp với mong muốn của người được thực hiện công việc sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán, trả thù lao ở người được thực hiện công việc.

  1. Những căn cứ khác do pháp luật quy định:

Ngoài việc được xác lập khi có một trong năm căn cứ đã nêu trên, nghĩa vụ dân sự còn được xác lập trong các trường hợp khác nếu pháp luật có quy định. Chẳng hạn, nghĩa vụ dân sự có thể được xác lập từ một bản án, quyết định của tòa án hoặc từ một quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Câu 15: Thế nào là chấm dứt nghĩa vụ?

Đáp án:

Chấm dứt nghĩa vụ được hiểu là việc một người có nghĩa vụ phải giao một tài sản hoặc thực hiện công việc nhằm đáp ứng lợi ích cho bên có quyền sẽ không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Việc chấm dứt nghĩa vụ sẽ giải phóng cho bên có nghĩa vụ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ mà không bị coi là vi phạm và không phải chịu bất cứ một chế tài nào. Nói cách khác, nghĩa vụ chấm dứt đồng nghĩa với việc chấm dứt một mối quan hệ pháp luật về nghĩa vụ giữa hai bên và lúc này bên có quyền sẽ không có quyền yêu cầu và bên có nghĩa vụ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ.

Câu 16: Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hiện hành?

Đáp án:

Điều 372 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

  • Nghĩa vụ được hoàn thành:

Điều 373 BLDS quy định về Hoàn thành nghĩa vụ như sau: Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện.

  • Hoàn thành nghĩa vụ trong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ:

Khi bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì nghĩa vụ hoàn thành tại thời điểm tài sản đã được gửi giữ tại nơi nhận gửi giữ theo quy định tại khoản 2 Điều 355 BLDS. Cụ thể khoản 2 Điều 355 BLDS quy định như sau “Trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có nghĩa vụ có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường hợp tài sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền.”

  • Theo thỏa thuận của các bên:

Điều 375 BLDS cho phép các bên có thể thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ bất cứ lúc nào, nhưng không được gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

  • Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ:

Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được miễn thì biện pháp bảo đảm cũng chấm dứt.

  • Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác:

Trường hợp các bên thỏa thuận thay thế nghĩa vụ ban đầu bằng nghĩa vụ khác thì nghĩa vụ ban đầu chấm dứt. Nghĩa vụ cũng chấm dứt, nếu bên có quyền đã tiếp nhận tài sản hoặc công việc khác thay thế cho tài sản hoặc công việc đã thỏa thuận trước.

Trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác.

  • Nghĩa vụ được bù trừ:

Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì khi cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch.

Những vật được định giá thành tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.

  • Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ:

Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:

– Nghĩa vụ đang có tranh chấp;

– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

– Nghĩa vụ cấp dưỡng;

– Nghĩa vụ khác do luật quy định.

  • Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một:

Khi bên có nghĩa vụ trở thành bên có quyền đối với chính nghĩa vụ đó thì nghĩa vụ chấm dứt.

  • Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết:

Khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết thì nghĩa vụ chấm dứt.

  • Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện:

Khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc nghĩa vụ được thực hiện chỉ dành cho cá nhân hoặc pháp nhân là bên có quyền mà cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt.

  • Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác:

Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác

Nghĩa vụ giao vật chấm dứt trong trường hợp vật phải giao là vật đặc định không còn.

Các bên có thể thỏa thuận thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại.

  • Trường hợp khác do luật quy định:

Trường hợp khác do luật quy định như trường hợp chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản. Trong trường hợp phá sản, nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Luật phá sản 2014.

Câu 17:  Trình bày khái niệm nghĩa vụ dân sự?

Đáp án:

Điều 274 Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra quy định về nghĩa vụ có nội dung như sau:

Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

Sau khi quan hệ nghĩa vụ được xác lập theo các căn cứ do pháp luật quy định, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền, người có nghĩa vụ phải triển khai hành vi của mình để thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận với người có quyền hoặc theo quy định của pháp luật.

Thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc triển khai hành vi của người có nghĩa vụ trong việc chuyển giao một tài sản, thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc vì lợi ích của người có quyền.

Như vậy, ta có thể hiểu, nghĩa vụ dân sự là cách xử sự bắt buộc đối với chủ thể là người có nghĩa vụ. Trong các quy phạm pháp luật dân sự, các quy phạm pháp luật cho phép các chủ thể lựa chọn cách thực hiện khi tham gia vào các quan hệ dân sự phát huy quyền tự định đoạt của mình. Pháp luật cũng đưa ra các quy định cấm người dân không được làm. Từ các quy phạm này, phát sinh nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự. Những nghĩa vụ dân sự này do pháp luật quy định cho tất cả các bên tham gia vào quan hệ dân sự không chỉ có ý nghĩa đối với các bên tham gia mà đó còn là nghĩa vụ của các chủ thể và có ý nghĩa đối với Nhà nước, đối với xã hội.

Câu 18: Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ?

Đáp án:

Việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ nghĩa vụ không những nhằm thoả mãn những nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần của mỗi bên mà còn phải hướng tới lợi ích chung của toàn xã hội. Đồng thời còn thể hiện việc chấp hành pháp luật, thể hiện tinh thần tôn trọng truyền thống đạo đức xã hội của các chủ thể trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự. Việc thực hiện nghĩa vụ phải theo nguyên tắc chung được quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

– Nguyên tắc thứ nhất: Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Đây là một nguyên tắc cơ bản trong tất cả các quan hệ của pháp luật dân sự. Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng của pháp luật dân sự. Đây là một nguyên tắc được áp dụng trong các quan hệ pháp luật dân sự nói chung và trong từng chế định, quy phạm của pháp luật dân sự.

– Nguyên tắc thứ hai: Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

Đây là nguyên tắc quan trọng có ý nghĩa đối với toàn bộ quan hệ dân sự, nguyên tắc này vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, những quan hệ mang tính chất cá nhân. Nguyên tắc này là nguyên tắc đầu tiên trong các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự có ý nghĩa nhấn mạnh việc áp dụng nguyên tắc này trong các giao dịch dân sự của đời sống xã hội, vì phần lớn các quan hệ trong đời sống dân sự được thực hiện thông qua hình thức cam kết, thỏa thuận.

– Nguyên tắc thứ ba: Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

Nguyên tắc thiện chí, trung thực không phải là một nguyên tắc mới mà được ghi nhận trong pháp luật dân sự từ lâu. Nguyên tắc này hoàn toàn tương thích với nguyên tắc bình đẳng của các chủ thể bởi khi các chủ thể có địa vị pháp lý ngang nhau thì đương nhiên, sự thiện chí, trung thực của mỗi chủ thể sẽ góp phần tạo nên hiệu quả trong việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên.

Như vậy, khi thực hiện nghĩa vụ dân sự, người có nghĩa vụ phải trung thực, không được lừa dối hoặc có những hành vi cản trở sự tiếp nhận nghĩa vụ đối với người có quyền. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có quyền, việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ phải theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết. Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng cam kết, thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ nhưng trên nguyên tắc những cam kết, thỏa thuận đó không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Câu 19: Khái niệm về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ?

Đáp án:

Trong quan hệ dân sự, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia, để đảm bảo quyền lợi cho bên được hưởng quyền thì bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn. Nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mà pháp luật dân sự đã dự liệu.

Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

Như vậy, các bên có nghĩa vụ dân sự đối với nhau kể từ khi quan hệ nghĩa vụ được xác lập nhưng trách nhiệm dân sự chỉ xuất hiện khi có một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình.

Câu 20: Đặc điểm trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ?

Đáp án:

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là một trong những loại trách nhiệm pháp lý nói chung nên nó mang những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý như: (i) Chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó; (ii) Là một hình thức cưỡng chế của Nhà nước và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng; (iii) Luôn mang đến một hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm pháp luật.

Ngoài những đặc điểm đã nêu trên, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ còn có những đặc điểm riêng biệt:
– Biểu hiện cụ thể của hành vi vi phạm pháp luật trong trách nhiệm dân sự là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự;
– Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ bao giờ cũng liên quan trực tiếp với tài sản. Lợi ích mà các bên hướng tới trong các quan hệ nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng mang tính chất tài sản, vì vậy, việc vi phạm nghĩa vụ của bên này sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia. Do đó, trách nhiệm dân sự của người vi phạm là phải bù đắp cho bên bị vi phạm những lợi ích vật chất;
– Trách nhiệm dân sự được áp dụng với người có hành vi vi phạm nhưng cũng có thể được áp dụng đối với người khác (người đại diện cho người chưa thành niên);
– Hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu là việc bắt buộc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại nhằm để thỏa mãn quyền lợi chính đáng và khôi phục, khắc phục những hậu quả vật chất cho người bị vi phạm.
Vì thế, về mặt khách quan: Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ phát sinh giữa các chủ thể đang tham gia với nhau một quan hệ dân sự mà khi bên có nghĩa vụ dân sự vi phạm nghĩa vụ đó. Về mặt chủ quan: Trách nhiệm dân sự được hiểu là việc phải gánh chịu một hậu quả mang tính tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ nhằm mục đích khắc phục hậu quả cho bên bị vi phạm (bên có quyền), ví dụ như phải giao vật hay phải bồi thường thiệt hại…
Có thể nói, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự là sự cưỡng chế của Nhà nước buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra cho phía bên kia (người có quyền). Trách nhiệm dân sự nói chung là một chế tài của ngành luật dân sự và trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là một chế tài trong nghĩa vụ dân sự. Đối với các chủ thể tham gia một quan hệ nghĩa vụ, bên cạnh việc các bên tự giác thực hiện nghĩa vụ, pháp luật còn đặt ra các biện pháp cưỡng chế nhằm tác động đến ý thức tự giác của các chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời cũng là căn cứ để áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Câu 21: Các loại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ?

Đáp án:
Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thì trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ đối với người có quyền sẽ phát sinh. Tuy nhiên, nếu sự vi phạm nghĩa vụ này chưa gây ra thiệt hại thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Mặt khác, nếu việc vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại nào đó cho người có quyền thì người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vì vậy, tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà trách nhiệm dân sự được phân thành hai loại trách nhiệm sau:
(i) Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ dân sự
Với trách nhiệm này, người vi phạm nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền. Nếu bên có quyền đã yêu cầu mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện thì bên có quyền có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Dạng trách nhiệm này bao gồm:
Một là, trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 356 Bộ luật Dân sự năm 2015)
– Trường hợp nghĩa vụ giao “vật đặc định” không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền “yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng vật đó”; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.
– Trường hợp nghĩa vụ giao “vật cùng loại” không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền “yêu cầu bên vi phạm phải giao vật cùng loại khác”; nếu không có vật cùng loại khác thay thế thì phải thanh toán giá trị của vật.
– Trường hợp việc vi phạm nghĩa vụ quy định trên mà gây thiệt hại cho bên bị vi phạm thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại.
Hai là, trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015)
– Trường hợp bên có nghĩa vụ “chậm trả tiền” thì bên đó phải “trả lãi đối với số tiền chậm trả” tương ứng với thời gian chậm trả.
– Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền: Được xác định “theo thỏa thuận” của các bên nhưng “không được vượt quá 20%/năm” của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng “không xác định rõ lãi suất” và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng “10%/năm” của khoản tiền vay tại thời điểm trả nợ.
Ba là, trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc (Điều 358 Bộ luật Dân sự năm 2015)
– Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể: “Yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện” hoặc “giao người khác thực hiện” công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý, bồi thường thiệt hại.
– Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền “yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện”, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại.
Bốn là, trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 359 Bộ luật Dân sự năm 2015)
Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải “bồi thường thiệt hại” cho bên đó và phải chịu mọi rủi ro, chi phí phát sinh kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
(ii) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại. Mặt khác, một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi, vì thế, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ phải dựa trên các cơ sở sau:
Một là, có hành vi trái pháp luật. Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý cho nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có hành vi trái pháp luật và chỉ áp dụng với người có hành vi đó. Về nguyên tắc, một người có nghĩa vụ mà không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đó thì bị coi là vi phạm pháp luật về nghĩa vụ. Vì nghĩa vụ đó là do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận, cam kết nhưng đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, không thực hiện nghĩa vụ không bị coi là trái pháp luật và không phải bồi thường thiệt hại, đó là: Nghĩa vụ dân sự không thể thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người có quyền và nghĩa vụ dân sự không thể thực hiện được do sự kiện bất khả kháng. Một sự kiện được coi là bất khả kháng nếu đó là sự kiện khách quan làm cho người có nghĩa vụ không thể biết trước và cũng không thể tránh được. Người có nghĩa vụ không thể khắc phục được khó khăn do sự kiện đó gây ra dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép của mình.
Hai là, có thiệt hại xảy ra trong thực tế. Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người có nghĩa vụ phải bù đắp cho người có quyền những tổn thất mà mình đã gây ra do việc mình vi phạm nghĩa vụ dân sự. Vì vậy, để xác định có thiệt hại xảy ra hay không, thiệt hại bao nhiêu là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng khi xem xét áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.
Ba là, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra. Trong khoa học pháp lý dân sự, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra được hiểu là giữa chúng có mối liên hệ nội tại tất yếu. Hành vi vi phạm là nguyên nhân, thiệt hại xảy ra là kết quả. Chỉ khi nào thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật thì người vi phạm mới phải bồi thường thiệt hại. Nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ nối tiếp nhau, nguyên nhân bao giờ cũng là cái đi trước, là cái sinh ra kết quả. Vì vậy, hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả xảy ra là tất yếu, nó là hai giai đoạn gắn bó của một quá trình vận động.
Mặt khác, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và một nguyên nhân có thể làm phát sinh nhiều kết quả. Vì thế, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần xem xét hành vi vi phạm có mối quan hệ như thế nào với thiệt hại đã xảy ra, nếu không xác định đúng mối quan hệ này rất dễ xảy ra sai lầm khi áp dụng trách nhiệm dân sự.
Bốn là, lỗi của người vi phạm nghĩa vụ dân sự. Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý. Về nguyên tắc, người đã được xác định là có nghĩa vụ mà không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đó thì đương nhiên bị coi là có lỗi. Lỗi là trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của một người đối với hành vi của họ và hậu quả của hành vi đó. Khi xem xét người vi phạm nghĩa vụ dân sự có lỗi hay không cần dựa vào thái độ chủ quan và nhận thức lý trí của người đó. Đồng thời, cũng thông qua các yếu tố này để xác định mức độ lỗi và hình thức lỗi của người vi phạm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự theo nguyên tắc có lỗi là phải bồi thường. Vì vậy, việc xác định lỗi đó ở hình thức nào nhiều khi không cần thiết phải đặt ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, việc xác định lỗi có ý nghĩa quan trọng khi xem xét người gây thiệt hại có được giảm mức bồi thường thiệt hại không. Ví dụ, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình thì được giảm mức bồi thường.
Khi xử sự của một người phủ định những yêu cầu của xã hội được pháp luật ghi nhận thì người đó sẽ bị coi là có lỗi. Việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình là sự phủ định những nội dung mà pháp luật đòi hỏi cho nên người đó bị coi là có lỗi. Một người sẽ bị coi là có lỗi cố ý khi nhận thức rõ hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình sẽ gây ra thiệt hại cho phía bên kia mà vẫn cố ý vi phạm. Sẽ là lỗi vô ý nếu người đó không thấy trước hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình có khả năng gây thiệt hại cho phía bên kia mặc dù phải biết trước hoặc có thể biết trước nếu mình vi phạm nghĩa vụ sẽ gây ra một thiệt hại.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 364 lỗi trong trách nhiệm dân sự gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong đó: Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Ngoài ra, khi xem xét trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ cần lưu ý hai quy định mới của Bộ luật Dân sự năm 2015:
– Về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại (Điều 362 Bộ luật Dân sự năm 2015)
Điều 362 Bộ luật này quy định: “Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình”. Quy định mới này buộc bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để hạn chế thiệt hại có thể gây ra cho mình. Trong trường hợp người bị thiệt hại chậm trễ trong việc áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để giảm thiểu thiệt hại cho mình thì người gây thiệt hại có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường tương ứng với mức thiệt hại mà lẽ ra người bị thiệt hại có thể hạn chế được.
– Về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi (Điều 363 Bộ luật Dân sự năm 2015)
Điều 363 Bộ luật này quy định: “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên có quyền thì bên có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”. Quy định mới trên là chế tài xử lý trách nhiệm dân sự đối với trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ và thiệt hại gây ra là do một phần lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người bị thiệt hại. Trong trường hợp bên vi phạm chứng minh được việc không thực hiện đúng nghĩa vụ là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc luật có quy định khác.

Câu 22: Căn cứ phát sinh việc bù trừ nghĩa vụ dân sự?

Đáp án:

Khi các bên trong một quan hệ pháp luật dân sự đều có nghĩa vụ với nhau và các nghĩa vụ đều có thể xác định rõ ràng về mặt giá trị thì có thể bù trừ cho nhau trừ các trường hợp sau đây:

Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:

  1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;
  2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
  3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;
  4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.

Câu 23: Khái niệm và đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?

Đáp án:

  • Khái niệm:

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu theo hai phương diện:

Về mặt khách quan: Là sự quy định của pháp luật về các biện pháp để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó.

Về mặt chủ quan: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thoả thuận giữa các bên về việc lựa chọn sử dụng một trong các biện pháp đã được pháp luật quy định để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với tính chất tác động, dự phòng để bảo; đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.

  • Đặc điểm:

– Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính:

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ nào đó. Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm. Nghĩa là việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập. Nội dung, hiệu lực của biện pháp bảo đảm phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính. Vì vậy, người ta gọi nghĩa vụ phát sinh từ các biện pháp bảo đảm là nghĩa vụ phụ.

– Thứ hai, các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao ttách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ:

Thông thường, khi đặt ra biện pháp bảo đảm, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp đồng của cả hai bên. Ví dụ: biện pháp đặt cọc buộc các bên phải giao kết hợp đồng.

Mục đích của các biện pháp bảo đảm được thể hiện thông qua các chức năng của từng biện pháp cụ thể. Mỗi một biện pháp bảo đảm có đặc điểm và tính chất riêng biệt, nên chức năng của chúng không thể giống nhau hoàn toàn. Một chức năng riêng biệt có ở biện pháp này nhưng không có ở biện pháp khác. Nhưng nếu nhìn một cách tổng thể thì các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có ba chức năng nói chung: Chức năng tác động, chức năng dự phòng và chức năng dự phạt.

  • Thứ ba, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất:

Lợi ích của các bên trong nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất. Quy luật ngang giá trong các quan hệ tài sản cho chúng ta thấy rằng chỉ có lợi ích vật chất mới bù đắp được các lợi ích vật chất. Vì vậy, các bên trong quan hệ nghĩa vụ không thể dùng quyền nhân thân làm đối tượng của biện pháp bảo đảm. Lợi ích vật chất là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường là một tài sản (vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản hoặc là một công việc phải làm). Các đối tượng này phải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tượng của nghĩa vụ nói chung.

– Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính:

Khoản 1 Điều 293 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”.

Như vậy, về nguyên tắc, phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ khi các bên không thoả thuận và pháp luật không quy định khác nhưng cũng có thể chỉ là một phần nghĩa vụ. Ví dụ: “Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh”.

Phạm vi của bảo lãnh không lớn hơn phạm vi của nghĩa vụ dù trong thực tế người có nghĩa vụ đưa một tài sản có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị của nghĩa vụ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Vì rằng, dù giá trị của đối tượng bảo đảm có lớn hơn giá trị nghĩa vụ nhưng mục đích của việc bảo đảm đó cũng chỉ là để người mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi đã xác định.

Thứ năm, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ:

Cho dù các bên đã đặt ra một biện pháp bảo đảm bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng biện pháp bảo đảm đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện một cách đầy đủ. Thông thường, trong một quan hệ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ tự giác thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người có quyền và nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đó cũng được coi là chấm dứt. Chức năng dự phòng của các biện pháp bảo đàm cho thấy rằng các biện pháp bảo đảm chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhàm qua đó bảo đảm quyền lợi cho bên có quuyền.

– Thứ sáu, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ sự thoả thuận giữa các bên:

Nếu các nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ khác nhau (các căn cứ này có thể là sự thoả thuận, có thể là do quy định của pháp luật) thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể phát sinh thông qua sự thoả thuận của các bên ưong một giao dịch dân sự. Vì vậy, có quan điểm cho rằng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là những hợp đồng phụ được đặt ra bên cạnh một hợp đồng chính để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng chính. Quan điểm trên còn nhiều vấn đề cần tranh luận nhưng dù sao vẫn phải thừa nhận rằng cách thức và toàn bộ nội dung của một biện pháp bảo đảm đều là kết quả của sự thoả thuận giữa các bên. Có những hợp đồng dân sự mà pháp luật quy định buộc phải có biện pháp bảo đảm (như hợp đồng cho vay mà bên cho vay là Ngân hàng nhà nước) nhưng không vì thế mà mất đi sự thoả thuận giữa các bên. Dù pháp luật đã quy định phải có thế chấp của người vay nhưng người vay vẫn có quyền lựa chọn thỏa thuận để cùng với bên cho vay xác định về nội dung của thế chấp (đối tượng của thế chấp là bất động sản nào, phương thức xử lý tài sản ra sao.

Câu 24: Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm?

Đáp án:

Biện pháp bảo đảm được ra đời nhằm mục đích đảm bảo cho một nghĩa vụ nhất định của bên bảo đảm đối với bên nhận bảo đảm. Từ đó, giúp bên nhận bảo đảm sẽ được quyền ưu tiên hơn các chủ thể khác trong việc xử lý tài sản về thời điểm và tỷ lệ được nhận từ tài sản bảo đảm.

Câu 25: Các biện pháp bảo đảm theo quy định hiện hành?

Đáp án:

Hiện nay có tất cả là chín biện pháp bảo đảm bao gồm:

  1. Cầm cố tài sản.
  2. Thế chấp tài sản.
  3. Đặt cọc.
  4. Ký cược.
  5. Ký quỹ.
  6. Bảo lưu quyền sở hữu.
  7. Bảo lãnh.
  8. Tín chấp.
  9. Cầm giữ tài sản.

Tùy theo từng loại giao dịch và tài sản hiện có của các chủ thể tham gia giao dịch mà các bên sẽ lựa chọn hình thức đảm bảo sao cho phù hợp với từng nội dụng giao dịch bảo đảm.

Câu 26: Quy định về hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm?

Đáp án:

Trong quan hệ đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phát sinh thêm quyền lợi của bên thứ ba trong quan hệ, thì sẽ làm phát sinh hiệu lực đối kháng trong một số trường hợp nhất định. Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hiệu lực đối kháng với người thứ ba như sau:

Điều 297. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba
1. Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.
2.Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan”

Câu 27: Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm?

Đáp án:

Pháp luật dân sự Việt Nam xác định thứ tự ưu tiên thanh toán dựa trên nguyên tắc thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm và thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm. Theo đó, thứ tự ưu tiên thanh toán như sau:

  • Nếu có phát sinh đối kháng với người thứ ba thì xác lập theo hiệu lực đối kháng
  • Trường hợp các giao dịch bảo đảm đã được đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký.Nghĩa là, giao dịch bảo đảm nào có thời điểm đăng ký giao dịch trước thì sẽ được ưu tiên thanh toán trước và ngược lại.
  • Tiếp theo, trong số những giao dịch bảo đảm có giao dịch bảo đảm được đăng ký và có những giao dich bảo đảm không được đăng ký, thì ưu tiên thanh toán cho giao dịch bảo đảm được đăng ký trước và giao dịch bảo đảm không được đăng ký sẽ thanh toán sau.
  • Cuối cùng, trường hợp các giao dịch bảo đảm không có đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm. Giao dịch bảo đảm có thời gian xác lập trước sẽ được thanh toán trước.

Lưu ý: Không phải mọi trường hợp các bên đều phải tuân thủ theo thứ tự ưu tiên trên. Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, theo đó các bên cùng nhận bảo đảm có thể thỏa thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán. Ngoài ra, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho tất cả các bên nhận bảo đảm, thì bên nhận bảo đảm sẽ được thanh toán tương ứng với tỷ lệ giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, cùng với thứ tự ưu tiên đã được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Câu 28: Quy định về hình thức của cầm cố tài sản?

Đáp án:

Bộ luật dân sự năm 2015 không xác định rõ về hình thức của cầm cố tài sản, tuy nhiên theo quy định tại Điều 310 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể hiểu nếu cầm cố tài sản là động sản thì có thể bằng hình thức miệng hoặc hình thức văn bản, nếu cầm cố bất động sản thì bắt buộc phải bằng văn bản.

Theo quy định tại điều luật trên thì văn bản cầm cố không nhất thiết phải công chứng hoặc chứng thực hoặc đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thông thường, nếu tài sản cầm cố không phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên không cần phải công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, để nâng cao độ an toàn pháp lý, các bên có thể thoả thuận cầm cố phải có công chứng hoặc chứng thực.

Câu 28: Quy định của pháp luật về chủ thể cầm cố tài sản?

Đáp án:

  • Bên cầm cố:

Bên cầm cố là bên phải giao tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Thông thường, bên cầm cố là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó. Chẳng hạn, B giao tài sản của mình cho A giữ để vay tiền của A. Trong nhiều trường hợp khác người cầm cố có thể là người thứ ba. Người thứ ba cầm cố tài sản là người không thuộc các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm giao tài sản của mình cho bên có quyền để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ đó. Chẳng hạn, c giao tài sản của mình cho A để bảo đảm việc B trả khoản tiền mà B đã vay của A. 

  •  Bên nhận cầm cố:

Bên nhận cầm cố là bên nhận tài sản từ bên cầm cố để bảo đảm cho quyền và lợi ích của mình trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố bao giờ cũng là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó.

Câu 29: Hiệu lực và thời hạn của cầm cố tài sản?

Đáp án:

Hợp đồng cầm cố có hiệu lực đối với các bên trong hợp đong từ thời điểm giao kết và có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố. Trong trường hợp tài sản cầm cố là bất động sản và việc cầm cố được đăng ký giao dịch bảo đảm thì có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thoả thuận. Nếu các bên không có thoả thuận thì thời hạn cầm cố tài sản được tính từ thời điểm bên cầm cố nhận tài sản cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.

Câu 30: Trình bày khái niệm, hình thức thế chấp tài sản?

Đáp án:

  • Khái niệm:

Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Thế chấp tài sản được quy định từ Điều 317 đến Điều 327 Bộ luật dân sự năm 2015.

  • Hình thức thế chấp:

Việc thế chấp phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Nêu việc thế chấp được ghi trong hợp đồng chính thì những điều khoản về thế chấp là những điều khoản cấu thành của hợp đồng chính. Nếu việc thế chấp được lập thành văn bản riêng thì được coi là một hợp đồng phụ bên cạnh hợp đồng chính, hiệu lực của nó phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính. Vì vậy, nội dung của văn bản thế chấp được lập riêng phải phù hợp với hợp đồng chính.

Văn bản thế chấp phải công chứng hoặc chứng thực nếu pháp luật có quy định hoặc các bên có thỏa thuận. Việc công chứng, chứng thực sẽ bảo đảm an toàn về pháp lý của các giao dịch. Mặt khác, Nhà nước cần quản lý các giao dịch liên quan đến bất động sản, cho nên thế chấp bất động sản thì buộc phải công chứng hoặc chứng thực.

Câu 31: Xử lý tài sản thế chấp và chấm dứt việc thế chấp tài sản?

Đáp án:

Nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lý để thực hiện nghĩa vụ.

Về nguyên tắc, việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện thông qua phương thức bán đấu giá. Tuy nhiên, nếu các bên đã thoả thuận trước hoặc khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ các bên tự thoả thuận về phương thức xử lý tài sản thì tài sản thế chấp được xử lý theo thoả thuận của các bên. Bên nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản thế chấp sau khi trừ chi phí bảo quản và các chi phí liên quan khác.

Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn mà tài sản đó được dùng thế chấp để bảo đảm nhiều nghĩa vụ thì các nghĩa vụ khác dù chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn. Quyền được ưu tiên thanh toán của những người nhận thế chấp (các chủ nợ) được xác định theo thứ tự giống như thanh toán nghĩa vụ đối với những người nhận cầm cố tài sản.

Thông thường tài sản thế chấp là một bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như nhà ở, cây lâu năm, công trình xây dựng và bất động sản này thuộc quyền sở hữu của của một chủ thể. Tuy nhiên, có những trường hợp trên một bất động sản có thể xác lập quyền của hai hay nhiều chủ sở hữu đối với các phần của bất động sản, như quyền bề mặt. Ví dụ: A có quyền sử dụng 8000m2 đất để xây dựng trung tâm thương mại. A cho B xác lập quyền bề mặt đối với 8000m2 đất đó để xây dựng trung tâm thương mại với thời hạn 30 năm. Như vậy, quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của A còn trung tâm thương mại thuộc quyền sở hữu của B. Trường hợp này A và B đều có quyền thế chấp tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ, vì vậy khi xử lý tài sản thế chấp sẽ theo nguyên tắc sau:

– Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người thể chấp thì xử lý cả quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất.

– Quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người khác (quyền bề mặt), khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thì người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ kế thừa các quyền và nghĩa vụ của người chuyển quyền sử dụng đất đối với người có quyền bề mặt trên diện tích đất đã chuyển nhượng.

– Quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của một chủ thể và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người có quyền bề mặt là đối tượng của thế chấp, nếu xử lý thế chấp là tài sản gắn liền với đất thì người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất sẽ kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền bề mặt đối với người có quyền sử dụng đất.

Việc thế chấp tài sản được coi là chấm dứt khi tài sản đã được xử lý, việc thế chấp bị huỷ bỏ hay đã được thay thế bằng một biện pháp bảo đảm khác. Ngoài ra, nếu nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp đã được thực hiện xong thì biện pháp thế chấp đó đương nhiên được coi là chấm dứt.

Câu 32: Quy định về hình thức, chủ thể và đối tượng của ký cược?

Đáp án:

Pháp luật hiện hành không quy định về hình thức bắt buộc đối với biện pháp ký cược. Vì thế, các bên có thể tuỳ ý lựa chọn hình thức xác lập việc ký cược và tùy từng trường hợp cụ thể, việc ký cược được xác lập theo lời nói hoặc văn bản. Tuy nhiên, trong thực tế nếu tài tài ký cược có giá trị lớn, các bên thường phải xác lập bằng hình thức văn bản hoặc lập biên bản về bàn giao tài sản theo hình thức giấy biên nhận. Ngoài ra, nếu hợp đồng cho thuê động sản được xác lập bằng văn bản thì các bên có thể thỏa thuận việc ký cược được ghi nhận bằng các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thuê tài sản.

Chủ thể của ký cược bao gồm hai bên, trong đó bên ký cược là bên đã giao tài sản ký cược cho bên kia. Bên ký cược có thể đồng thời là bên thuê tài sản, có thể là người thứ ba, tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của bên cho thuê. Bên nhận ký cược là bên đã nhận tài sản ký cược để bảo đảm cho việc trả lại tài sản đã cho thuê và bao giờ cũng là bên cho thuê tài sản.

Tài sản ký cược là các loại tài sản thuộc sở hữu của bên ký cược và được phép chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, có thể nói tài sản ký cược chỉ bao gồm tiền, các vật là động sản hiện có (không thể là các quyền tài sản, bất động sản, vật hình thành trong tương lai) vì bên ký cược phải “giao” tài sản ký cược cho bên nhận ký cược một cách thực tế.

Câu 33: Quy định về mục đích, nội dung của ký cược?

Đáp án:

Mục đích của ký cược là nhằm buộc bên thuê phải trả lại tài sản đã thuê hoặc thông qua tài sản ký cược để bên cho thuê bảo đảm được lợi ích của mình trong trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thuê. Vì vậy, nội dung của ký cược bao gồm: nếu tài sản thuê được trả lại thì bên cho thuê phải hoàn trả tài sản ký cược sau khi đã được bên ký cược thanh toán tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê.

Câu 34: Quy định về hình thức, chủ thể liên quan trong biện pháp ký quỹ?

Đáp án:

Hình thức và thủ tục ký quỹ phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng.

Chủ thể trong quan hệ ký quỹ bao gồm hai bên: Bên ký quỹ là bên đã gửi một lượng tài sản vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng nhất định. Bên nhận ký quỹ là bên được thanh toán, bồi thường thiệt hại từ tài khoản đó nếu nếu đến thời hạn mà bên kí quỹ không thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong ký quỹ, ngân hàng được coi là chủ thể giữ tài sản ký quỹ và có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên bị vi phạm nghĩa vụ bằng tài sản trong tài khoản ký quỹ.

Câu 35: Trình bày đặc điểm của biện pháp bảo đảm tín chấp?

Đáp án:

Có thể nói, tín chấp là một hình thức bảo lãnh vay vốn nhưng khác với với bảo lãnh thông thường ở một số điểm sau đây:

– Người bảo đảm: Phải là tổ chức chính trị-xã hội tại cơ sở;

– Người được bảo đảm: Là thành viên nghèo của tổ chức là người bảo đảm;

– Đối tượng để bảo đảm: Là uy tín của tổ chức;

– Mục đích vay: Thực hiện sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ được xác định cụ thể trong hợp đồng vay vốn và người vay phải sử dụng vốn đúng với mục đích vay đã được xác định trong hợp đồng;

– Bên cho vay có quyền kiểm soát việc sử dụng vốn vay và có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và thu hồi vốn nếu người vay sử dụng vốn không đúng mục đích đó.

Câu 36: Quy định của pháp luật về đối tượng và phạm vi bảo lãnh?

Đáp án:

  • Đối tượng của bảo lãnh:

Đối tượng của bảo lãnh là các cam kết của người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh. Tuy nhiên để thực hiện được cam kết đó thì người bảo lãnh phải có tài sản hoặc công việc phù hợp để đáp lại lợi ích của bên nhận bảo lãnh trong trường hợp người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ.

Lợi ích mà các bên chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ hướng tới là lợi ích vật chất. Vì vậy người bảo lãnh phải bằng một tài sản hoặc bằng việc thực hiện một công việc thay cho người được bảo lãnh mới đảm bảo được quyền lợi cho người nhận bảo lãnh. Người bảo lãnh phải là người có khả năng thực hiện công việc đó.

Người bảo lãnh phải lấy tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho người nhận bảo lãnh xử lý.

  • Phạm vi bảo lãnh:

Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.

Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện.

Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Câu 37: Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?

Đáp án:

  Khoản 1 Điều 335 BLDS quy định bên bảo lãnh “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Theo đó, thời điểm mà bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ được xác định theo hai trường hợp sau:

– Khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh đến thời hạn thực hiện. Xác định việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh bắt đầu từ thời điểm này trong trường hợp các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thỏa thuận khác về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Như vậy, trong trường hợp này, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ kể từ thời điểm bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đến hạn.

– Khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được xác định từ thời điểm có đủ căn cứ để xác định về việc bên được bảo lãnh không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Câu 38: Nêu hình thức, nội dung bảo lưu quyền sở hữu?

Đáp án:

  •  Hình thức bảo lưu quyền sở hữu:

Vì biện pháp bảo lưu quyền sở hữu chỉ có hiệu lực đối kháng khi đăng ký, cho nên khi xác lập biện pháp bảo lưu quyền sở hữu thì phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán làm cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm.

  • Nội dung:

Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Bên mua có quyền sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực, đồng thời phải chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Câu 39: Vì sao bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận nội dung bảo lưu quyền sở hữu?

Đáp án:

Việc ghi nhận bảo lưu quyền sở hữu với tư cách là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của BLDS 2015 được đánh giá là phù hợp với bản chất “bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” của biện pháp bảo lưu quyền sở hữu nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh đối với những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đời sống nhân dân, qua đó bảo đảm được tính bao quát, ổn định trong quy định của BLDS.

Bên cạnh đó, một trong những xu hướng của pháp luật dân sự của các nước hiện nay đều coi bảo lưu quyền sở hữu như một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Do đó, việc bảo lưu quyền sở hữu từ phần hợp đồng mua bán sang phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là phù hợp với thông lệ quốc tế.

Câu 40: Khái niệm hợp đồng dân sự?

Đáp án:

Điều 275 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

– Hợp đồng.

– Hành vi pháp lý đơn phương.

– Thực hiện công việc không có ủy quyền.

– Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

– Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

– Căn cứ khác do pháp luật quy định.

Điều 385 BLDS đã đưa ra khái niệm hợp đồng như sau: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Câu 41: Phân loại hợp đồng dân sự?

Đáp án:

  • Dựa vào hình thức của hợp đồng:

Nếu dựa vào hình thức của hợp đồng thì hợp đồng dân sự được phân thành hợp đồng miệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có công chứng, chứng thực, hợp đồng mẫu.

  • Dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên:

Nếu dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên thì hợp đồng dân sự được phân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ:

– Khoản 1 Điều 402 BLDS quy định Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau. Mỗi bên chủ thể là người vừa có quyền và có nghĩa vụ.

– Khoản 2 Điều 402 BLDS quy định Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. Một bên chỉ có nghĩa vụ mà không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là người có quyền nhưng không phải thực hiện nghĩa vụ nào.

  • Dựa vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng:

Nếu dựa vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng thì hợp đồng dân sự được phân thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ:

– Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ. Như vậy, các hợp đồng chính khi đã tuân thủ đầy đủ điều kiện pháp luật quy định thì đương nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên từ thời điểm giao kết.

– Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Các hợp đồng phụ muốn có hiệu lực phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, nội dung, hình thức,.. Tuy nhiên, nếu đã tuân thủ các điều kiện trên nhưng hợp đồng vẫn có thể không có hiệu lực nếu hợp đồng chính ( hợp đồng mà nó phụ thuộc) bị coi là không có hiệu lực. Ví dụ: hợp đồng cầm cố không có hiệu lực khi hợp đồng cho vay không có hiệu lực

  • Dựa vào tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể:

Nếu dựa vào tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể thì hợp đồng dân sự được phân thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù:

– Hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Đa số các hợp đồng dân sự là hợp đồng có đền bù. Tính chất đền bù trong hợp đồng được các bên áp dụng để thực hiện việc trao đổi với nhau các lợi ích vật chất. Các hợp đồng có đền bù đa phần là hợp đồng song vụ mà ngược lại.

+ Trong thực tế vẫn có trường hợp hợp đồng có đền bù là hợp đồng đơn vụ ( như hợp đồng cho vay có lãi mà hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm bên vay đã nhận tiền) Và cũng có nhiều hợp đồng song vụ không có đền bù như hợp đồng gửi giữ không có thù lao.

– Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được từ bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một lợi ích nào. Hợp đồng không có đền bù thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương thân, tương ái giữa các chủ thể.

+ Trong quá trình giao kết hợp đồng này, dù đã hứa hẹn, thống nhất ý chí nhưng việc chấp nhận đề nghị không mang tính chất ràng buộc đối với bên được đề nghị. Do đó, đối với hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật quy định có hiệu lực khi các bên đã thực tế trao cho nhau đối tượng tặng cho hoặc đã hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu.

  • Dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực:

Nếu dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực thì hợp đồng dân sự được phân thành hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế:

– Hợp đồng ưng thuận là những hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thỏa thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng. Có thể hiểu thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ưng thuận là thời điểm giao kết.

– Hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng.

Hợp đồng có điều kiện:

Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định. Tuy nhiên, sự kiện mà các bên thỏa thuận chỉ được coi là điều kiện để hợp đồng được thực hiện hoặc được chấm dứt khi sự kiện đó đáp ứng được các yêu cầu sau:

– Các sự kiện mang tính khách quan, các sự kiện xuất hiện hay không nằm ngoài ý chí của các chủ thể và là tình tiết trong tương lai ( xuất hiện sau khi hợp đồng đã được giao kết)

– Nếu điều kiện đó là một công việc phải làm thì phải là những công việc có thể thực hiện được

– Sự kiện mà các bên chủ thể thỏa thuận phải phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba:

Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó. Trong thực tế, có trường hợp người thứ ba không trực tiếp tham gia vào hợp đồng với tư cách chủ thể nhưng họ có quyền đối với bên có nghĩa vụ vì các bên tham gia thỏa thuận bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ cho người thứ ba. Việc thỏa thuận này có thể trực tiếp hoặc được coi là mặc nhiên do tính chất của hợp đồng quy định. Ví dụ: hợp đồng chuyển bưu phẩm, chuyển tiền qua bưu điện,..

Hợp đồng hỗn hợp:

Hợp đồng hỗn hợp là những hợp đồng mà khi kí kết, cùng một lúc làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ dân sự vốn là nội dung của hai hay nhiều hợp đồng thông thường khác.

Câu 42: Hình thức của hợp đồng dân sự?

Đáp án:

Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng và độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Điều 199 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định hình thức của giao dịch dân sự cũng là hình thức của hợp đồng, gồm:

  • Hình thức miệng (bằng lời nói):

Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp dòng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau. Hình thức này thường được áp dụng trong những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau (bạn bè cho nhau vay tiền) hoặc đối với những hợp đồng mà ngay sau khi giao kết sẽ được thực hiện và chấm dứt.

  • Hình thức viết ( bằng văn bản):

Trong văn bản, các bên phải ghi đầy đủ nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng ký tên xác nhận vào văn bản. Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lí chắc chắn hơn so với hình thức miệng. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia. Vì vậy, đối với hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc giao kết thì các bên thường chọn hình thức này. Thông thường, hợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản.

  • Hình thức có công chứng, chứng thực, đăng ký?

Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của nó là những tài sản mà nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát khi chúng được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có giá trị chứng cứ cao nhất. Vì vậy, đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm, các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng.

Câu 43: Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự?

Đáp án:

Khi hợp đồng đã có hiệu lực, các bên phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự đã được xác định từ hợp đồng đó. Trên cơ sở của hình thức đã giao kết mà hiệu lực của hợp đồng được xác định theo từng thời điểm khác nhau. Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Tuy nhiên, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự còn được xác định theo sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng dân sự được coi là có hiệu lực vào một trong các thời điểm sau:

– Hợp đồng miệng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thỏa thuận với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng

– Hợp đồng bằng văn bản thường có hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hợp đồng

Hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký có hiệu lực tại thời điểm văn bản hợp đồng được công chứng, chứng thực, đăng ký.

– Hợp đồng còn có thể có hiệu lực sau các thời điểm nói trên nếu các bên đã tự thỏa thuận để xác định hoặc trong trường hợp pháp luật quy định.

Ví dụ: Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực tại thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản theo quy định về Tặng cho động sản tại điều 458 BLDS.

Câu 44: Nêu khái niệm, nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự?

Đáp án:

  • Khái niệm:

Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự.

  • Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự:

Trên tinh thần hiến pháp của luật tư – BLDS năm 2015, các nguyên tắc ơ bản về giao kết hợp đồngđã được đưa vào Bộ luật với nội dung tương đối ngắn gọn, súc tích, cô đọng, rõ ràng. Cụ thể như sau: 

– Nguyên tắc bình đẳng (khoản 1, Điều 3 của BLDS năm 2015): 

Nội dung của nguyên tắc bình đẳng thể hiện: Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử, được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Khi phân tích nguyên tắc này cho thấy, “mọi cá nhân, pháp nhân” trong quan hệ dân sự đều bình đẳng trước pháp luật. Ngoài ra, cụm từ “bất kỳ lý do nào” đã bao hàm tất cả các lý do có thể có. Hàm ý của nó chứa đựng nhiều vấn đề như: Dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp… 

– Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận: (quy định tại khoản 2, Điều 3 của BLDS năm 2015): 

Nội dung của nguyên tắc này bao hàm: Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. 

Tinh thần của nguyên tắc này thể hiện, mọi cam kết, thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên. Hiện nay, nguyên tắc này đã thể hiện rõ ràng, rành mạch và dễ hiểu hơn so với BLDS năm 2005. Đồng thời, nội dung của nguyên tắc này đã bao hàm ý nghĩa của nguyên tắc tôn trọng pháp luật trước đây tại BLDS năm 2005. 

– Nguyên tắc thiện chí, trung thực (khoản 3, Điều 3 của BLDS năm

2015)

Nguyên tắc này có nội dung như sau: Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực. Nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, đồng thời, thể hiện rõ ý chí của mình làm cơ sở thực hiện những thỏa thuận, cam kết trong các mối quan hệ này. 

– Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (khoản 4,

 Điều 3 của BLDS năm 2015): 

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. 

– Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự (khoản 5, Điều 3 của BLDS 

năăm 2015): Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. Đây là một trong những quy định bắt buộc làm cơ sở để giải quyết tranh chấp nếu có, đồng thời là một trong những biện pháp buộc các bên phải thực hiện nghiêm túc những thỏa thuận, cam kết trong các mối quan hệ dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể pháp luật dân sự. 

Hiện nay, khác với trước đây, BLDS năm 2015 đã bãi bỏ quy định “Nếu không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ dân sự thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định pháp luật”. Việc bỏ quy định này các thể hiện tinh thần của dân sự đó là sự tự do, tự

 nguyện trao giao kết và thực hiện hợp đồng. 

Mặt khác, nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp còn có ý nghĩa góp phần để việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 

Bên cạnh đó, còn phải kể đến nguyên tắc hòa giải: Trong quan hệ dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định pháp luật được khuyến khích. Bởi lẽ, việc hòa giải vừa thể hiện sự tôn trọng quyền tự do định đoạt và giúp cho các tranh chấp giữa các bên nhanh chóng được giải quyết. 

Câu 45: Thực hiện hợp đồng dân sự là gì?

Đáp án:

Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp với pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Từ thời điểm đó, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Theo nội dung của hợp đồng, các bên lần lượt tiến hành các hành vi mang tính nghĩa vụ đúng với tính chất đối tượng, thời hạn, phương thức và địa điểm mà nội dung của hợp đồng đã xác định.

Vì vậy, thực hiện hợp đồng dân sự là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi một bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của bên kia.

Câu 46: Nội dung thực hiện hợp đồng dân sự?

Đáp án:

Khi thực hiện hợp đồng dân sự, các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản về đối tượng, địa điểm, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác mà nội dung của hợp đồng đã xác định. Ngoài ra, việc thực hiện hợp đồng dân sự còn phải tuân theo những cách thức mà pháp luật quy định đối với từng loại hợp đồng cụ thể sau:

  • Đối với hợp đồng đơn vụ:

Điều 409 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thỏa thuận, chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý.

  • Đối với hợp đồng song vụ:

Điều 410 BLDS quy định về việc thực hiện hợp đồng song vụ như sau:

– Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp hoãn thực hiện nghĩa vụ và Nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên.

– Trường hợp các bên không thỏa thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước.

  • Quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ:

Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.

  • Nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên:

Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

  • Đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba:

BLDS quy định việc Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba tại Điều 415, cụ thể:

– Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu các bên trong hợp đồng có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết.

– Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.

  • Quyền từ chối của người thứ ba:

Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải thông báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ. Trong trường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

  • Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản:

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;

– Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;

– Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;

– Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

– Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.

Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

– Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

– Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.

Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Câu 47: Các trường hợp sửa đổi hợp đồng dân sự?

Đáp án:

Khoản 2 Điều 421 BLDS quy định hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định về Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cụ thể:

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;

– Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;

– Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;

– Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

– Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Lưu ý, Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.

Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

– Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.

Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Câu 48: Chấm dứt hợp đồng dân sự trong trường hợp nào?

Đáp án:

Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:

  • Hợp đồng đã được hoàn thành:

Khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ và mỗi bên đều đã đáp ứng được quyền dân sự của mình thì hợp đồng được coi là hoàn thành

  • Theo thỏa thuận của các bên:

Trong những trường hợp bên có nghĩa vụ không có khả năng để thực hiện hợp đồng hoặc nếu hợp đồng được thực hiện sẽ gây ra tổn thất lớn về vật chất cho một hoặc cả hai bên thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng đã giao kết được coi là chấm dứt tại thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận nói trên

  • Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại:

Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện

Không phải mọi trường hợp cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc tổ chức khác giao kết hợp đồng chấm dứt thì hợp đồng đều được coi là chấm dứt mà chủ những hợp đồng nào mà do tính chất của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó hoặc do các bên đã thỏa thuận trước là người có nghĩa vụ phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đó hay chỉ người có quyền mới được hưởng lợi ích phát sinh từ hợp đồng thì khi họ chết, hợp đồng mới chấm dứt.

Ví dụ: A ký kết một hợp đồng với họa sĩ tạo hình là B. Theo đó, B phải hoàn thành cho A một bức tượng nghệ thuật tại nhà A. Nếu hợp đồng chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong mà B chết thì hợp đồng đó đương nhiên chấm dứt.

  • Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện:

Khi có một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Khi đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phần hợp đồng chưa thực hiện sẽ chấm dứt, hợp đồng được coi là chấm dứt kể từ thời điểm bên vi phạm nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng từ bên bị vi phạm. Khi hợp đồng bị chấm dứt, bên có nghĩa vụ không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng các bên phải thanh toán phần hợp đồng đã được thực hiện.

Pháp luật cho phép các bên trong hợp đồng được thỏa thuận về việc một bên có quyền hủy hợp đồng nếu bên kia bi phạm hợp đồng. Trong những trường hợp đó, bên bị vi phạm hợp đồng có quyền đơn phương hủy hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại. Khi một bên hủy hợp đồng thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên phải hoàn trả cho nhau những tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng vật thì phải hoàn trả bằng tiền

  • Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn:

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là một vật đặc định hoặc đơn chiếc mà do bị mất hoặc bị tiêu hủy hay các lí do khác nên vật đó không còn thì hợp đồng đó đương nhiên được coi là chấm dứt vào thời điểm vật là đối tượng của hợp đồng không còn. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận vẫn duy trì hợp đồng đó bằng cách thay thế vật không còn bằng một vật khác

  • Hợp đồng chấm dứt khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản:

Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.

Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

– Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

– Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Trường hợp khác do luật quy định

 

CHƯƠNG VII: CÁC HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THÔNG DỤNG 

Câu 1: Trình bày khái niệm hợp đồng mua bán tài sản? 

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền bán tài sản, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản mua và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức các bên đã thoả thuận

Câu 2: Trình bày đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản?

Đáp án:

2.1 Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng song vụ:

Bên bán và bên mua đều có quyền và nghĩa vụ đổi nhau. Trong hợp đồng này, bên bán có quyền yêu cầu bên mua nhận vật và trả tiền mua vật; ngược lại, bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao vật và nhận tiền bán vật.

2.2 Hợp đồng mua bán là hợp đồng có đền bù:

Khoản tiền mà bên mua tài sản phải trả cho bên bán tài sản là khoản đền bù về việc mua bán tài sản. Đặc điểm có đền bù trong hợp đồng mua bán tài sản là yếu tố phân biệt giữa hợp đồng này với hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng không có đền bù.

2.3 Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ bên bán sang bên mua:

Đây là căn cứ kế tục quyền sở hữu tài sản. Đặc điểm này là yếu tố phân biệt giữa hợp đồng mua bán tài sản với hợp đồng cho mượn tài sản, hợp đồng cho thuê tài sản.

Câu 3: Nêu ý nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản?

Đáp án:

Hợp đồng mua bán là phương tiện pháp lý tạo điều kiện cho công dân, tổ chức trao đổi hàng hoá, thoả mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, quan hệ mua bán phản ánh mối quan hệ kinh tế về trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Từ đó tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân.

Câu 4: Trình bày về đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản?

Đáp án:

Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản cũng phải thoả mãn những quy định của pháp luật về chế độ pháp lí của đối tượng trong giao dịch dân sự. Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản phải được phép giao dịch. Nếu đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải được xác định rõ. Do sự phát triển của các quan hệ xã hội về tài sản ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, theo đó, đối tượng của hợp đồng mua bán không chỉ đơn thuần là vật chất cụ thể. Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản còn là quyền tài sản thì phải có những chứng từ hoặc các bằng chứng khác để chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên bán. Quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phổ biến là chuyển giao quyền đòi nợ, mua bán quyền sử dụng đất đai, mua bán quyền sở hữu các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao được… Cho dù đối tượng của hợp đồng mua bán là vật cụ thể hay một quyền tài sản thì vật đó hoặc quyền tài sản đó phải được xác định rõ.

Đối tượng của hợp đồng mua bán có thể là vật hình thành trong tương lai.

Ví dụ: Mua bán hoa màu chưa được thu hoạch, mua bán chung cư đang xây dựng… trường hợp này người bán phải có căn cứ chứng minh là vật đó đang hoặc chuẩn bị được hình thành.

Câu 5: Trình bày về giá cả của hợp đồng mua bán tài sản?

Đáp án:

Giá cả của hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Giá cả là biểu hiện giá trị thực tế của vật, nó phụ thuộc vào chất lượng, số lượng, tính năng, tác dụng của vật bán và mức cung cầu của thị trường đối với loại tài sản đó.

Trong thực tế, giá cả do các bên thỏa thuận và nó phụ thuộc vào nhu cầu của các bên. Do vậy, giá cả trong hợp đồng mua bán biểu hiện bằng một số tiền nhất định do các bên thỏa thuận, thống nhất với nhau. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà Nhà nước có quy định khung giá thì các bên thỏa thuận theo quy định đó. Các bên có thể thỏa thuận áp dụng hệ số trượt giá khi có biến động về giá cả. 

Việc áp dụng này một mặt bảo đảm quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bẽn trong quan hệ mua bán tài sản, mặt khác, nó còn là điều kiện để các bên có thể thỏa thuận về những hợp đồng liên quan đến đối tượng phải có thời gian dài mới thực hiện được. Trong trường hợp các bên thỏa thuận về mức giá hoặc phương pháp xác định giá không rõ ràng thì giá của tài sản được xác định căn cứ vào giá thị trường tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 433 Bộ luật dân sự năm 2015).

Câu 6: Trình bày hình thức của hợp đồng mua bán tài sản?

Đáp án:

Hình thức của hợp đồng mua bán có thể bằng miệng, bằng văn bản do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Nếu đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì hình thức của hợp đồng mua bán phải bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Ví dụ: mua bán nhà ở, xe cơ giới… Hình thức của hợp đồng mua bán là căn cứ để xác định người bán và người mua đã tham gia vào hợp đồng mua bán, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; xác định trách nhiệm dân sự của bên vi phạm hợp đồng.

Câu 7: Trình bày về thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản bán?

Đáp án:

Thông thường, sau khi các bên thực hiện nghĩa vụ trả tiền và nhận tài sản thì bên mua có quyền sở hữu tài sản mua. Đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sau khi đăng ký quyền sở hữu và được cấp đăng ký hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu thì người mua có quyền sở hữu. Việc mua tài sản đăng ký quyền sở hữu bắt buộc phải sang tên trong một thời hạn luật định. Khi mua bán chưa chuyển quyền sở hữu thì bên bán có quyền hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, do vậy họ phải chịu rủi ro khi tài sản bị thiệt hại. Trường hợp bên mua cố tình không thực hiện việc trước bạ sang tên thì hết thời hạn luật định, người bán không chịu trách nhiệm về việc tài sản hư hỏng.

Câu 8: Trình bày phương thức thực hiện hợp đồng mua bán?

Đáp án:

Đối với hợp đồng mua bán thông thường, sau khi thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng mua bán, bên mua trả tiền và bên bán chuyển vật. Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì nhu cầu bán hàng của các doanh nghiệp cạnh tranh quyết liệt. Hoặc do nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh lớn nhưng tài chính không đủ để mua bán hàng hoá. Để giải quyết các khó khăn trong việc mua và bán hàng hoá, thị trường và xã hội đã tìm ra những phương thức mua bán đa dạng, phong phú, tạo điều kiện cho bên bán bán được hàng hoá, bên mua giải quyết khó khăn về tài chính và các khó khăn khác, những hình thức mua bán này được pháp luật bảo hộ gồm: mua bán trả chậm, trả dần, mua sau khi dùng thử, chuộc lại tài sản đã bán (xem các điều 453,454 Bộ luật dân sự).

Câu 9: Trình bày quy định pháp luật về bên bán?

Đáp án:

Bên bán là người có tài sản đem bán. Bên bán là chủ sở hữu tài sản hoặc là người được ủy quyền bận. Bên bán còn có thể là người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật. Bên bán có quyền yêu cầu bên mua phải trả tiền theo như thỏa thuận khi giao kết hợp đồng. Bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua đúng kỳ hạn, đúng phương thức và địa điểm như các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Nếu bên bán không giao vật đúng kỳ hạn, đúng đối tượng, bên mua có quyền hủy hợp đồng mua bán. Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu tài sản cho bên mua như chuyển tài sản và các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu tài sản của mình. Để bên mua có quyền sở hữu đối với tài sản mua, bên bán phải là chủ sở hữu hoặc người có quyền được bán theo quy định của pháp luật. Nếu bên bán không phải là chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền bán mà có người thứ ba yêu cầu đòi tài sản của bên mua thì bên bán phải hoàn trả cho bên mua số tiền mình đã nhận. Bên bán phải bảo đảm chất lượng của tài sản đem bán. Neu tài sản không đúng với chất lượng như thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định thì bên bán phải đổi tài sản khác cùng loại cho bên mua, phải sửa chữa hoặc giảm giá bán.

Nếu tài sản bán là vật đặc định, bên bán phải giao đúng vật đó, không được tự ý thay đổi vật hoặc một bộ phận của vật. Nếu tài sản bán là vật chính có vật phụ thì phải chuyển giao cả vật chính và vật phụ… Trường hợp tài sản bán có khuyết tật hoặc chất lượng không tốt mà bên bán đã thông báo cho bên mua biết thì tài sản đem bán được coi là chất lượng đã bảo đảm. Đối với tài sản bán ưong các cửa hàng đồ cũ hoặc quầy hàng bán tài sản kém phẩm chất thì phải coi đây là trường hợp người bán đã thông báo trước cho bên mua về khuyết tật, chất lượng của tài sản bán.

Câu 10: Trình bày các dạng của khuyết tật tài sản?

Đáp án:

Khuyết tật của tài sản được biểu hiện ở hai dạng: khuyết tật rõ rệt và khuyết tật ẩn giấu.

Khuyết tật rõ rệt: Là những khuyết tật ở bên ngoài tài sản mà mọi người nhìn thấy được. Vì vậy, bên bán có thể thông báo cho bên mua biết hoặc khi nhận vật bên mua phải chỉ ra khuyết tật của tài sản và đưa ra các yêu cầu thích đáng đối với bên bán. Nếu khi người mua nhận vật mua không phát hiện ra khuyết tật đó và sau một thời gian mới biết thì bên bán không phải chịu trách nhiệm về khuyết tật đó. Do vậy, khi giao nhận bên mua phải thận trọng xem xét bên ngoài tài sản. Nếu bên mua không xem xét kĩ lưỡng thì phải gánh chịu thiệt hại, không được viện lí do tài sản bị khuyết tật để không thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng.

Khuyết tật ẩn giấu: Là những khuyết tật nằm bên trong tài sản khó phát hiện. Bên bán và bên mua đều không phát hiện được khi giao kết hợp đồng. Khi sử dụng phải nhờ chuyên gia mới phát hiện được khuyết tật đó.

Trường hợp này hai bên tưởng tượng nhầm về đối tượng hợp đồng mà không ai có lỗi. Sô tiền bên mua trả cho bên bán là giá trị của tài sản chất lượng tốt nhưng thực tế giá trị của tài sản không đúng với chất lượng như đã thoả thuận. Vì vậy, bên bán phải giảm giá bán phù hợp với chất lượng thực tế của tài sản hoặc đổi tài sản khác cùng loại với tài sản đã bán. Nếu bên bán cố ý che giấu khuyết tật của tài sản làm cho bên mua nhầm lẫn thì hợp đồng có thể bị vô hiệu (Điều 126 Bộ luật dân sự).

Bên bán phải giao tài sản bán đúng phương thức và thời hạn. Phương thức giao tài sản do các bên thỏa thuận. Nếu không thoả thuận về phương thức thì bên bán phải giao cho bên mua một lần toàn bộ tài sản đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng. Thông thường, việc mua bán tại cửa hàng hoặc ở chợ thì việc giao tài sản thực hiện sau khi bên mua trả tiền. Trong trường hợp các bên không thoả thuận và pháp luật không quy định về chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu thì bên bán phải chịu chi phí về vận chuyển đến địa điểm thực hiện nghĩa vụ và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu (Điều 442 Bộ luật dân sự). Xác định thời hạn giao tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự và xác định quyền sở hữu đối với tài sản của các bên. Từ đó xác định bên nào phải chịu rủi ro khi tài sản bị hư hỏng mà không do lỗi của ai.

Ngoài những nghĩa vụ liên quan đến tài sản, bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu cho bên mua (Điều 444 Bộ luật dân sự năm 2015). Việc đảm bảo quyền sở hữu cho bên mua một cách tốt nhất là phải có đầy đủ các giấy tờ về nhà ở, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà pháp luật quy định. Việc mua bán được thực hiện đúng các thủ tục pháp luật quy định. Nếu tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì phải chứng minh nguồn gốc tài sản và có người làm chứng. Tuy nhiên, trong thực tế không phải bao giờ hợp đồng mua bán diễn ra đúng như pháp luật quy định, vì vậy khi có tranh chấp, bên bán phải đứng về phía bên mua. Trường hợp không bảo vệ được quyền sở hữu cho bên mua thì phải bồi thường thiệt hại.

Câu 11: Trình bày quy định pháp luật về bên mua?

Đáp án:

Bên mua là bên có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán đúng như giá cả đã thoả thuận đồng thời có nghĩa vụ nhận tài sản khi bên bán giao cho. Bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao đúng vật, đúng chất lượng, số lượng… chủng loại, đúng thời hạn… Nếu bên bán giao tài sản không đúng số lượng, chủng loại… bên mua có quyền hủy hợp đồng hoặc nhận tài sản thì có quyền yêu cầu bên bán phải bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại Điều 437 Bộ luật dân sự năm 2015, trong trường hợp bên bán giao vật với số lượng nhiều hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra; nếu nhận thì phần thanh toán được thực hiện theo thỏa thuận đối với phần dôi ra. Nếu bên bán giao vật cho bên mua không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được thì bên mua có thể nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu bên mua đã trả tiền mua tài sản nhưng chưa nhận vật do bên bán giao vật không đồng bộ thì được trả lãi đối với số tiền đã trả theo lãi suất nợ quá hạn theo quy định tại Điều 446 Bộ luật dân sự năm 2015 và yêu cầu bên bán phải bồi thường thiệt hại do giao vật không đồng bộ, kể từ thời điểm phải thực hiện hợp đồng cho đến khi vật được chuyển giao đồng bộ (Điều 438 Bộ luật dân sự năm 2015). Nếu bên bán giao vật không đúng .chủng loại, bên mua có quyền nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận hoặc yêu cầu bên bán giao vật đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại hoặc bên mua có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 439 Bộ luật dân sự năm 2015). Bên mua có quyền sở hữu đối với tài sản mua kể từ khi nhận tài sản từ bên bán. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu, bên mua có quyền sở hữu đối với tài sản sau khi đã đăng ký quyền sở hữu và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu., (ví dự. nhà ở, công trình xây dựng…).

Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán. Trường hợp mua bán có bảo hành tài sản bán, trong thời hạn bảo hành, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của tài sản hoặc tài sản không bảo đảm chất lượng như đã thoả thuận… thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải sửa chữa tài sản, đổi tài sản khác hoặc yêu cầu giảm giá bán. Nếu bên bán không chịu thực hiện nghĩa vụ sửa chữa, đổi tài sản, giảm giá…. thì bên mua có quyền yêu cầu lấy lại tiền mua và sửa lại tài sản cho bên bán. Khi bảo hành, mọi chi phí và sửa chữa bên bán phải gánh chịu.

Câu 12: Trình bày về khái niệm bảo hành?

Đáp án:

Trong quá trình sản xuất ra hàng hóa, đặc biệt là những hàng hóa có kết cấu phức tạp, đòi hỏi người sản xuất có phương tiện máy móc, kỹ thuật hiện đại và trình độ công nghệ cao như các đồ dùng điện và điện tử, xe hơi,.. nếu không bảo đảm về kĩ thuật thì khi dùng nó không đáp ứng được nhu cầu của người mua. Để bảo đảm quyền lợi của người tiêu cùng và cũng để giữ tín nhiệm với khách hàng, các nhà sản xuất đặt ra cho mình nghĩa vụ là sửa chữa hàng hóa đã bán cho người mua trong một thời hạn nhất định. thời hạn đó gọi là thời hạn bảo hành.

Điều 446 BLDS quy định Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật.

Trong thời hạn bảo hành, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua thì có quyền yêu cầu bên bán phải sửa chữa và không phải trả tiền sửa chữa.

Câu 13: Trình bày quy định về nghĩa vụ của bên bảo hành?

Đáp án:

Bên bán phải bảo đảm vật bán đúng chất lượng như đã thỏa thuận, nếu chất lượng vật không đúng như vậy thì phải sửa chữa vật hoặc chịu những chi phí về sửa chữa. Sau khi mua vật về sử dụng, vật bị hư hỏng, khuyết tật mà không phải do lỗi của người mua thì bên bán hàng hóa phải sửa chữa. Vì vậy, bên bán có nghĩa vụ vận chuyển đến nơi sửa chữa và sau khi sửa chữa xong phải trả lại vật cho người mua tại nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua nếu không có thỏa thuận khác.

Trường hợp nếu không sửa chữa được vật, bên bán phải giảm giá vật bán hoặc đổi cho người mua vật khác. Nếu người mua không chấp nhận giảm giá hoặc đổi vật khác thì bên bán phải trả lại tiền và nhận lại vật.

Trong thời hạn bảo hành, vật bị hư hỏng do lỗi của người mua, bên bán không phải sửa chữa nhưng nếu do khuyết tật về kĩ thuật mà vật bị hư hỏng và gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe cho người mua hoặc người khác, bên bán có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại đó.

Bảo hành là 1 biện pháp khắc phục hậu quả do sai sót về kĩ thuật của người sản xuất, bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng. Mặt khác, nó tạo ra tâm lý an tâm cho người mua trong quá trình sử dụng tài sản, từ đó khuyến khích mọi người mua những hàng hóa có bảo hành.

Câu 14: Trình bày khái niệm bán đấu giá tài sản?

Đáp án:

Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai để cho nhiều người có thể được tham gia trả giá mua một tài sản. Những người tham gia mua tài sản bán đấu giá phải nộp một khoản lệ phí theo quy định của pháp luật. Khoản tiền này nhằm ràng buộc người đã đăng ký phải tham gia bán đấu giá hoặc không mua tài sản thì số tiền này không được lấy lại. Nếu họ có tham gia đấu giá nhưng không mua được thì được nhận lại số tiền lệ phí mà mình đã đóng.

Khi tham gia đấu giá tài sản, người nào trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm thì người đó được mua tài sản. Nếu trong cuộc bán đấu giá mà không ai trả giá cao hơn giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá xem như không thành và sẽ được tổ chức lại.

Thông qua hình thức này, quyền lợi của người có tài sản được thỏa mãn một cách tốt nhất, còn người mua sẽ mua được tài sản với giá cả phù hợp, các quyền lợi của người mua liên quan đến tài sản đã mua được đáp ứng 1 cách nhanh chóng.

Câu 15: Trình bày quyền và nghĩa vụ của người bán đấu giá?

Đáp án:

Người bán đấu giá là trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản do Sở tư pháp trực tiếp quản lí hoặc các tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá có tư cách pháp nhân. Tổ chức đấu giá tài sản bao gồm Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và doanh nghiệp đấu giá tài sản.

  • Nghĩa vụ của người bán đấu giá:

Người bán đấu giá có nghĩa vụ thông báo, niêm yết công khai đầy đủ, chính xác thông tin cần thiết có liên quan đến tài sản đấu giá.

– Các thông tin về bán đấu giá như thời gian, loại tài sản, chất lượng, giá khởi điểm,.. phải được niêm yết tại trụ sở của tổ chức bán đấu giá. Nếu tài sản là bất động sản hoặc động sản có giá khởi điểm từ 10 triệu đồng trở lên buộc phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng hai lần, mỗi lần cách nhau ba ngày. Như vậy, số lượng người biết về việc bán đấu giá tài sản sẽ nhiều hơn và việc bán đấu giá sẽ khách quan hơn.

Người bán đấu giá phải bảo quản tài sản được giao, không được sử dụng tài sản, nếu làm hư hỏng, mất mát thì phải bồi thường thiệt hại.

Trước khi bán đấu giá phải trưng bày, cho xem hồ sơ tài sản bán đấu giá. Đặc biệt đối với tài sản như nhà ở, quyền sử dụng đất phải có đủ giấy tờ hợp pháp về sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất. Người bán đấu giá phải bảo đảm quyền sở hữu cho người mua về nhà ở , đảm bảo quyền sử dụng đất cho người mua theo quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong BLDS và Luật đất đai 2013.

Sau khi bán đấu giá, người bán đấu giá phải giao ngay cho người mua tài sản bán đấu giá nếu là động sản. Đối với tài sản phải đăng kí quyền sở hữu, người bán đấu giá giao cho người mua sau khi người mua thanh toán xong tiền mua. Người bán đấu giá có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho người mua. Trong thời hạn 15 ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản, việc chuyển quyền sở hữu tài sản bán đấu giá phải hoàn thành.Các chi phí làm thủ tục chuyển quyền sở hữu được trừ vào tiền bán đấu giá tài sản kể cả lệ phí công chứng, văn bản bán đấu giá và lệ phí trước bạ sang tên.

Thông thường, đối với việc đăng ký quyền sở hữu thì người chủ sở hữu mới phải nộp tiền lệ phí trước bạ nhưng trường hợp này lệ phí đã được tính vào giá trị tài sản bán. Vì vậy, khi định giá khởi điểm bán đấu giá cần phải tính thêm vào giá trị tài sản để tránh thiệt hại cho người có tài sản.

  • Quyền của người bán đấu giá:

Người bán đấu giá có quyền yêu cầu người bán tài sản cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến tài sản bán đấu giá và chịu trách nhiệm về các thông tin đó.

Trường hợp người có tài sản không muốn bán tài sản nhưng bị cưỡng chế bán tài sản để thi hành án thì việc xác định thông tin về tình hình tài sản sẽ gặp nhiều khó khăn. Nếu tài sản bán đấu giá do chiếm hữu bất hợp pháp mà có và sau khi bán đấu giá, người mua bị người khác khởi kiện và đòi lại tài sản thì người bán đấu giá phải bồi thường thiệt hại cho người mua tài sản.Đặc biệt những tài sản cầm đồ là động sản rất khó xác định nguồn gốc. Vì rủi ro của người bán đấu giá là rất lớn, do đó người bán đấu giá cần phải điều tra nguồn gốc tài sản bán đấu giá.

Người bán đấu giá có quyền yêu cầu người mua phải thực hiện đúng hợp đồng đã kí kết. Thời điểm kí kết hợp đồng bán đấu giá chính là thời điểm khi người điều hành bán đấu giá tuyên bố giá cao nhất lần thứ ba mà không ai tham gia trả giá nữa. Người mua phải thực hiện nghĩa vụ, nếu họ không thực hiện nghĩa vụ thì người bán đấu giá có quyền xử lí tiền lệ phí bán đấu giá mà người mua đã đóng.

Câu 16: Trình bày quy định về người mua tài sản đấu giá?

Đáp án:

Người mua có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Người nào trả giá cao nhất (nhưng không được thấp hơn giá khởi điểm) sẽ được mua tài sản đấu giá. Nếu người trả giá cao nhất rút lại giá đã trả trước khi người điều hành bán đấu giá tuyên bố được mua tài sản thì cuộc bán đấu giá tiếp tục và bắt đầu từ giá liền kề. Người rút lại giá không được hoàn trả khoản tiền đặt trước. Số tiền này thuộc về người có tài sản.

Trường hợp người trả giá cao nhất đã được mua tài sản đấu giá sau đó từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề, nếu người được ưu tiên không mua tài sản thì cuộc bán đấu giá không thành. Người trả giá cao nhất không mua sẽ mất tiền đặt cọc trước. Đây được coi là số tiền bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng không phải là đặt cọc.

– Người mua tài sản có quyền sở hữu tài sản kể từ khi nhận tài sản là động sản. Nếu tài sản là bất động sản thì quyền sở hữu phát sinh kể từ sau khi đăng ký trước bạ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Câu 17: Trình bày quy định về người có tài sản bán đấu giá?

Đáp án:

Người có tài sản đấu giá là cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Người có tài sản bán đấu giá ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá. Các bên bàn bạc định giá khởi điểm bán đấu giá, giá khởi điểm do người bán tài sản quyết định. Tuy nhiên cần phải tham khảo ý kiến của người bán đấu giá để định giá tài sản phù hợp với giá thị trường.

Trường hợp bán đấu giá để thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án sẽ là người có tài sản bán đấu giá và kí hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá. Trong trường hơp này, người phải thi hành án dân sự không tự nguyện thực hiện quyết định, bán án của tòa án cho nên theo yêu cầu của người được thi hành án, cơ quan thi hành án cưỡng chế bán đấu giá tài sản để thi hành án và ký hợp đồng bán đấu giá tài sản để thực hiện nhiệm vụ của mình.

Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp để thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người có tài sản bán đấu giá là:

– Người cầm cố, thế chấp và người nhận cầm cố, thế chấp. Nếu khi ký hợp đồng cầm cố, thế chấp mà các bên có thỏa thuận về xử lý cầm cố, thế chấp bằng biện pháp bán đấu giá thì cả hai bên cùng ký hợp đồng bán đấu giá với người bán đấu giá. Người cầm cố, thế chấp và người nhận cầm cố, thế chấp là một bên của hợp đồng bán đấu giá tài sản, vì vậy họ đều có quyền tham gia định giá khởi điểm bán đấu giá.

Nếu trong hợp đồng cầm cố, thế chấp mà các bên có thỏa thuận xử lí tài sản bằng biện pháp bán đấu giá và người cầm cố, thế chấp không chịu kí hợp đồng bán đấu giá thì người nhận cầm cố, thế chấp sẽ là người có tài sản bán đấu giá.

Thông thường, nếu người cầm cố, thế chấp cố ý không thực hiện nghĩa vụ của mình thì sẽ gây khó khăn cho việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp như: vắng mặt ở nơi cư trú, trốn tránh không ký hợp đồng ủy quyền bán tài sản,.. Trong trường hợp này, các bên đã thỏa thuận sẽ bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp, vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của người nhận cầm cố, thế chấp, pháp luật cho phép họ được ký hợp đồng bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ.

Câu 18: Trình bày khái niệm, đối tượng và hình thức của hợp đồng trao đổi?

Đáp án:

  • Khái niệm:

Hợp đồng trao đổi là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau (khoản 1 Điều 455 Bộ luật dân sự năm 2015). Tài sản đem trao đổi phải thuộc quyền sở hữu của mỗi bên, bên này định đoạt tài sản của mình đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của bên kia đối với tài sản đã định đoạt. Bản chất của hợp đồng trao đổi tài sản (vật) là hai hợp đồng mua bán tài sản nhưng việc thanh toán hợp đồng không phải bằng tiền mà bằng hiện vật. Vì vậy, nếu có tranh chấp về hợp đồng trao đổi ngoài việc áp dụng các quy định của hợp đồng trao đổi tài sản còn phải áp dụng các quy định của hợp đồng mua bán tài sản (khoản 4 Điều 455).

  • Đối tượng, hình thức của hợp đồng:

Đối tượng của hợp đồng trao đổi rất đa dạng, phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên, đối tượng có thể là vật cùng loại, vật không cùng loại. Tuy nhiên, trong thực tế, đối tượng của hợp đồng trao đổi tài sản thường là vật cùng loại, có thể là động sản hoặc bất động sản. Tuỳ thuộc vào đối tượng của hợp đồng mà hình thức của hợp đồng có thể bằng miệng, văn bản hoặc văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

Câu 19: Trình bày đặc điểm pháp lý của hợp đồng trao đổi tài sản?

Đáp án:

  •  Hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng có đền bù:

Hợp đồng trao đổi là sự trao đổi tài sản và quyền sở hữu của hai bên cho nhau. Các vật đem trao đổi là các lợi ích mà các bên hướng tới. Vì vậy, nếu trao đổi không đúng đối tượng sẽ gây thiệt hại cho bên kia. Khi các bên nhận được đầy đủ tài sản trao đổi thì hợp đồng chấm dứt.

Có thể coi hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng “mua bán” đặc biệt. Tính chất ngang giá là bản chất của hợp đồng trao đổi và luôn luôn đóng vai trò quyết định giữa giá trị của các vật là đối tượng của hợp đồng trao đổi tài sản. Tuy nhiên, các bên có thể trao đổi vật khác giá trị và tính đền bù chênh lệch.

  • Hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng song vụ:

Sau khi các bên giao kết hợp đồng, mỗi bên đều có quyền và có nghĩa vụ đối với bên kia. Các bên đều có quyền yêu cầu bên kia chuyển vật và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Các bên đều có nghĩa vụ chuyển vật cho nhau. Ngoài ra, nếu có chênh lệch giá trị thì bên có tài sản giá trị lớn hơn có quyền yêu cầu bên kia thanh toán.

Câu 20: Trình bày quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng trao đổi tài sản?

Đáp án:

Trong hợp đồng trao đổi tài sản, mỗi bên đều được coi là người bán và người mua. Do vậy, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong mối quan hệ được xác định theo hợp đồng mua bán tài sản.

  • Nghĩa vụ của các bên:

Các bên đều có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng các tài sản của mình đúng như đã thỏa thuận, phải bảo đảm quyền sở hữu về tài sản của mình cho bên kia. Quyền sở hữu của mỗi bên được xác lập đối với tài sản của bên kia kể từ khi các bên tiếp nhận tài sản của nhau. Trong trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác.

  • Quyền của các bên:

Đối tượng của hợp đồng trao đổi là bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu của các bên phát sinh đối với tài sản của mỗi bên kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời điểm xác lập quyền sở hữu cũng là thời điểm chấm dứt hợp đồng trao đổi tài sản

Khi có tranh chấp về hợp đồng trao đổi tài sản cần phải áp dụng các quy định về hợp đồng trao đổi tài sản. Ngoài ra còn phải áp dụng các quy định về hợp đồng mua bán tài sản để giải quyết.

Câu 21: Trình bày khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản?

Đáp án:

  • Khái niệm:

Điều 457 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.

  • Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản:

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng không có đền bù. Đặc điểm này được thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên được tặng cho còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại bên tặng cho bất kì lợi ích nào.

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế. Khi bên được tặng cho nhận tài sản thì quyền của các bên mới phát sinh. Do vậy, mọi thỏa thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản.

Câu 22: Trình bày đối tượng và hình thức của hợp đồng tặng cho?

Đáp án:

  • Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản:

Đối tượng của hợp đồng tặng cho có thể là động sản hoặc bất động sản theo Điều 458 và 459 BLDS

  • Tặng cho động sản:

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

  • Tặng cho bất động sản:

Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản

Lưu ý:

– Đối tượng của hợp đồng tặng cho có thể là quyền tài sản (quyền yêu cầu của người khác). Trường hợp này được điều chỉnh bởi các quy định về chuyển quyền yêu cầu. Sau khi tặng cho, người được tặng cho rở thành người có quyền đối với bên có nghĩa vụ.

– Đối tượng tặng cho là quyền sử dụng đất thì khi tặng cho phải tuân theo quy định Luật đất đai 2013.

  • Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản:

Hình thức của hợp đồng tặng cho phụ thuộc vào đối tượng của nó. Nếu đối tượng của hợp đồng tặng cho là động sản thì hợp đồng tặng cho có thể bằng miệng, văn bản. Nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc là bất động sản thì hình thức của hợp đồng tặng cho phải là văn bản có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Câu 23: Trình bày đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản?

Đáp án:

– Đây là hợp đồng đơn vụ. Xét theo nguyên tắc, hợp đồng vay tài sản là đơn vụ đối với những trường hợp vay không có lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải hoàn trả vật cùng loại tương ứng với số lượng, chất lượng của tài sản cho bên bay. Bên vay không có quyền đối với bên cho vay. Tuy nhiên đối với hợp đồng vay tài sản có lãi suất thì bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, nếu vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự.

– Hợp đồng vay là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù. Nếu hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù, nếu hợp đồng vay không có lãi suất là hợp đồng không có đền bù.

– Hợp đồng vay là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ bên cho vay sang bên vay, khi bên vay nhận tài sản. Vì vậy, bên vay có toàn quyền đối với tài sản vay, trừ trường hợp vay có điều kiện sử dụng

Câu 24: Nêu ý nghĩa của hợp đồng vay tài sản?

Đáp án:

Hợp đồng vay tài sản có tác dụng giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh tế trước mắc, giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn khi thiếu vốn để sản xuất và lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, sản xuất, kinh doanh.

Câu 25: Trình bày đối tượng và kỳ hạn của hợp đồng vay tài sản?

Đáp án:

  • Đối tượng của hợp đồng:

Thông thường, đối tượng của hợp đồng vay tài sản là 1 khoản tiền. Tuy nhiên trong thực tế đối tượng còn có thể là vàng, kim khí, đá quý hoặc 1 số lượng tài sản khác. Đối tượng của hợp đồng vay tài sản được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu. Bên vay có quyền định đoạt tài sản vay. Khi hết hạn hợp đồng, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia một tài sản khác cùng loại với tài sản vay hoặc số tiền đã vay

  • Kỳ hạn của hợp đồng:

Hợp đồng vay tài sản có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định, không xác định). Nếu hợp đồng vay tài sản không thỏa thuận về kỳ hạn thì hợp đồng vay tài sản được coi là không có kỳ hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho bên vay chuẩn bị tiền hoặc tài sản khi trả, bên cho vay phải báo cho bên vay một thời gian hợp lý để thực hiện hợp đồng. Hết thời gian đó, bên vay buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình.

Nếu hợp đồng không có kỳ hạn thì bên vay có thể thực hiện hợp đồng vào bất cứ thời gian nào, bên cho vay không được từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng vay có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu của hợp đồng.

Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn, không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ khi nào, còn bên cho vay chỉ được đòi tài sản trước thời hạn nếu bên vay đồng ý.

Trường hợp vay có kỳ hạn và có lãi, bên vay phải trả tài sản và lãi đúng thời hạn. Nếu bên vay trả tài sản trước thời hạn thì phải trả toàn bộ lãi theo kì hạn đã thỏa thuận.

Câu 26: Trình bày quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản?

Đáp án:

  • Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay

Nếu hợp đồng vay không kỳ hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả tài sản và lãi (nếu có thỏa thuận) bất cứ thời gian nào nhưng phải thông báo cho bên vay một thời hạn hợp lí. Hết thời hạn đó là hết hạn của hợp đồng và bên vay không trả nợ là vi phạm về thời gian.

Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn, khi hết hạn của hợp đồng, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải trả cho mình một số tiền, tài sản tương ứng với tiền, tài sản đã cho vay. Ngoài ra, nếu các bên có thỏa thuận về lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi như thỏa thuận.

Nếu hợp đồng cho vay có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay không thực hiện đúng thời hạn thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận hoặc theo yêu cầu bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ. Bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản đầy đủ, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại như thỏa thuận cho bên vay. Nếu bên cho vay có ý lừa dối bên vay chuyển giao tài sản không bảo đảm chất lượng mà gây thiệt hại cho bên vay thì phải bồi thường.

Ngoài ra, bên cho vay phải bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó. 

  • Quyền và nghĩa vụ của bên vay:

Là người cần đến sự giúp đỡ về vật chất của bên cho vay. Do vậy khi hết hạn của hợp đồng, bên vay phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã ký kết. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.  Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Đối với hợp đồng cho vay không kỳ hạn:

Nếu hợp đồng không kỳ hạn, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ thì bên vay phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thỏa thuận. Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào, thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay không kỳ hạn. Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay. Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.

+ Đối với hợp đồng cho vay có kỳ hạn:

Nếu hợp đồng có kỳ hạn mà bên vay trả nợ trước thời hạn thì phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi của cả thời hạn vay trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Bởi vì khi cho vay, bên cho vay đã xác định trong thời gian cho vay đó không sử dụng tài sản, tiền vào mục đích khác, do vậy khi trả lại tài sản thì bên cho vay chưa có kế hoạch sử dụng tài sản đó. Hay bên cho vay sẽ bị động khi bên vay trả tài sản trước thời hạn.

+ Đối với hợp đồng vay có lãi:

Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

– Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn

– Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Đối với hợp đồng vay không có lãi:

Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Câu 27: Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay tài sản?

Đáp án:

Lãi suất trong hợp đồng là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tài sản hoặc số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian.Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Căn cứ vào lãi suất, số tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền lãi nhất định. Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay.

Điều 468 BLDS quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay (lãi suất giới hạn), trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. (Luật các tổ chức tín dụng) Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Ngoài quy định về cách tính lãi suất trong hạn, BLDS quy định về lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Mặt khác, đối với khoản lãi chưa trả thì bên vay phải trả lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn chưa trả tương ứng với các quy định về nghĩa vụ trả tiền và trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ. Quy định này thúc đẩy bên vay phải thực hiện nghĩa vụ trả lãi đúng kỳ hạn, góp phần lành mạnh hóa thị trường tiền tệ.

Câu 28: Trình bày khái niệm, ý nghĩa của hợp đồng thuê tài sản?

Đáp án:

+ Khái niệm:

Điều 472 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng thuê tài sản (HĐ thuê tài sản) là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.

+ Ý nghĩa:

Là căn cứ pháp lý phát sinh quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của bên thuê. Thông qua HĐ thuê tài sản, chủ sở hữu tài sản cho thuê đã thực hiện quyền năng sử dụng tài sản của mình thông qua hành vi của người thuê

Là căn cứ hợp pháp cho các bên khai thác triệt để tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng chưa khai thác hết tiềm năng, công suất, tránh lãng phí.

Là phương tiện pháp lý nhằm khắc phục tình trạng nhà sản xuất kinh doanh không có đủ tư liệu sản xuất vẫn có thể tiến hành sản xuất, kinh doanh qua việc sử dụng tài sản thuê.

Câu 29: Trình bày đặc điểm pháp lý của hợp đồng thuê tài sản?

Đáp án:

+ Hợp đồng thuê tài sản là hợp đồng có đền bù:

Mục đích của bên thuê là nhằm được sử dụng tài sản của người khác trong một thời hạn nhất định. Ngược lại, bên cho thuê hướng tới việc thu được một khoản tiền khi cho người khác sử dụng tài sản của mình. Vì vậy, khi hợp đồng thuê được xác lập thì mỗi bên đều chuyển giao cho nhau những lợi ích , trong đó, bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê quyền khai thác công dụng của tài sản, bên thuê chuyển giao cho bên cho thuê một khoản tiền (tiền thuê tài sản).

+ Hợp đồng thuê tài sản là hợp đồng song vụ:

Bên thuê tài sản có nghĩa vụ trả lại tài sản thuê và tiền thuê như đã thỏa thuận. Bên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê giao tài sản để sử dụng. Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê sử dụng tài sản thuê đúng mục đích, công dụng, thời hạn, phương thức và trả lại tài sản thuê, tiền thuê.

Câu 30: Trình bày về hình thức của hợp đồng thuê tài sản?

Đáp án:

Phụ thuộc vào đối tượng của hợp đồng là động sản hay bất động sản mà hình thức của hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật. 

Nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản mà nhà nước không kiểm soát khi chuyển nhượng hoặc tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu thì hợp đồng thuê tài sản phải được lập thành văn bản nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Văn bản do các bên viết tay hoặc đánh máy và có chữ kí của hai bên. Văn bản còn có thể là hóa đơn cho thuê ( nếu thuê lại cửa hàng có đăng kí kinh doanh). Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa bên cho thuê và bên thuê, vào thời gian dài hay ngắn mà các bên có thể thỏa thuận bằng miệng hoặc bằng văn bản

Nếu đối tượng của hợp đồng là bất động sản hoặc tài sản phải đăng kí quyền sở hữu và pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì các bên trong HĐ thuê tài sản phải tuân theo quy định này.

Việc thuê quyền sử dụng đất phải tuân theo quy định của luật đất đai.

Câu 31: Trình bày những đặc thù của hợp đồng thuê khoán?

Đáp án:

Điều 483 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng thuê khoán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê khoán giao tài sản cho bên thuê khoán để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản thuê khoán và bên thuê khoán có nghĩa vụ trả tiền thuê.

Hợp đồng thuê khoán tài sản có những đặc thù sau đây:

– Đối tượng của hợp đồng thuê khoán là tư liệu sản xuất gồm: đất đai, rừng, mặt nước chưa khai thác,..

– Thời hạn thuê khoán theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh phù hợp với tính chất của đối tượng thuê khoán

– Mục đích của thuê khoán là khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó.

Câu 32: Trình bày về hình thức của hợp đồng thuê khoán?

Thuê khoán tài sản là thuê tư liệu sản xuất để kinh doanh, vì vậy, phụ thuộc vào công việc kinh doanh của bên thuê mà họ sẽ lựa chọn tư liệu sản xuất phù hợp để thuê, cho nên đối tượng của hợp đồng thuê khoán đa dạng và hình thức phong phú theo hình thức của giao dịch. Tuy nhiên, hợp đồng thuê khoán phải có công chứng hoặc chứng thực hoặc phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu pháp luật có quy định. Nhà nước giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản thuê khoán là bất động sản để ngăn chặn các hành vi khai thác tài sản thuê khoán sai mục đích sử dụng mà pháp luật đã quy định.

Câu 33: Trình bày giá cả và thời hạn trong hợp đồng thuê khoán?

Đáp án:

– Thời hạn thuê khoán do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng không rõ ràng thì thời hạn thuê khoán được xác định theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh phù hợp với tính chất của đối tượng thuê khoán. Tùy thuộc vào giá trị sử dụng của vật thuê khoán mà các bên thỏa thuận về thời hạn thuê, nhưng thời hạn thuê khoán không thể thấp hơn 1 chu kỳ khai thác thông thường vật thuê khoán và còn phụ thuộc vào những vật chất khác mà người thuê khoán dùng để khai thác công dụng của vật thuê.

– Giá thuê khoán do các bên thỏa thuận; nếu thuê khoán thông qua đấu thầu thì giá thuê khoán là giá được xác định theo kết quả đấu thầu. Phương thức trả tiền thuê do các bên thỏa thuận.

Câu 34: Trình bày về trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán?

Đáp án:

Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý; nếu thuê khoán theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác thì thời hạn báo trước phải phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác.

Trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán thì bên cho thuê khoán không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng.

Câu 35: Trình bày khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng mượn tài sản?

Đáp án:

+ Khái niệm:

Điều 494 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.

+ Đặc điểm pháp lý:

– Hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng không có đền bù. Bên mượn tài sản có quyền sử dụng tài sản của bên cho mượn mà không phải trả tiền sử dụng tài sản

– Hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng đơn vụ. Bên cho mượn tài sản có quyền yêu cầu bên mượn trả lại tài sản mượn khi tới hạn hoặc mục đích mượn đã đạt được. Bên mượn có nghĩa vụ trả lại tài sản mượn theo yêu cầu của bên cho mượn.

– Hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng thực tế. Khi chuyển giao tài sản cho bên mượn là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên

–  Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản là vật đặt định không tiêu hao. Sau khi sử dụng tài sản mượn, bên mượn phải trả lại đúng tài sản đã mượn cho bên cho mượn. Nếu tài sản mượn bị mất, hư hỏng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bên mượn tài sản đó.

Câu 36: Trình bày về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mượn tài sản?

Đáp án:

Quyền và nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản:

+ Nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản:

Điều 498 BLDS quy định bên cho mượn tài sản có những nghĩa vụ sau:

– Cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và khuyết tật của tài sản, nếu có.

– Thanh toán cho bên mượn chi phí sửa chữa, chi phí làm tăng giá trị tài sản, nếu có thỏa thuận.

– Bồi thường thiệt hại cho bên mượn nếu biết tài sản có khuyết tật mà không báo cho bên mượn biết dẫn đến gây thiệt hại cho bên mượn, trừ những khuyết tật mà bên mượn biết hoặc phải biết. Bên cho mượn phải thông báo cho bên mượn biết về chất lượng và khả năng sử dụng tài sản, cung cấp các thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và các khuyết tật của tài sản (nếu có). Nếu biết những khuyết tật của tài sản mà cố ý không thông báo cho bên mượn, khi sử dụng tài sản gây thiệt hại cho bên mượn, bên cho mượn phải bồi thường thiệt hại. 

+ Quyền của bên cho mượn tài sản:

Bên cho mượn là người có quyền sở hữu tài sản hoặc có quyền được chuyển dịch. Cụ thể:

– Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.

– Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.

Khi hợp đồng hết hạn hoặc có lí do chính đáng, bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản của mình. Nếu hợp đồng chưa hết hạn, bên cho mượn muốn đòi lại tài sản thì phải thông báo trước cho bên mượn một thời gian hợp lí để chuẩn bị trả lại tài sản.

Khi bên mượn cố ý vi phạm nghĩa vụ của mình như sử dụng tài sản không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận, thiếu cẩn thận hoặc tự ý cho người khác mượn, thuê tài sản mà không có sự đồng ý của bên cho mượn thì bên cho mượn có quyền hủy hợp đồng.

– Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra.

Quyền và nghĩa vụ của bên mượn tài sản:

+ Nghĩa vụ của bên mượn tài sản:

Căn cứ theo quy định tại Điều 496 BLDS, bên mượn tài sản có các nghĩa vụ sau:

– Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.

– Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.

– Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.

– Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn. Bên mượn tài sản khi sử dụng phải cẩn thận, không làm hư hỏng tài sản hoặc khai thác tối đa công dụng của tài sản làm thiệt hại cho bên kia. Khi sử dụng tài sản, nếu làm hư hỏng, mất mát thì phải bồi thường thiệt hại, hết hạn hợp đồng phải trả lại tài sản trong tình trạng ban đầu ( hao mòn không đáng kể).

– Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.

+ Quyền của bên mượn tài sản:

Điều 497 quy định bên mượn tài sản có các quyền sau:

– Được sử dụng tài sản mượn theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thỏa thuận.

– Yêu cầu bên cho mượn thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn, nếu có thỏa thuận.

– Không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên của tài sản mượn.

Khi có hành vi ngăn cản quyền sử dụng hoặc gây thiệt hại đến tài sản, bên mượn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho mình hoặc chuyển yêu cầu đó cho chủ sở hữu tài sản. 

Bên mượn tài sản có quyền sử dụng tài sản và hưởng lợi ích từ việc sử dụng đó.

Câu 37: Trình bày khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng ủy quyền?

Đáp án:

Điều 562 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

+ Đặc điểm pháp lí của hợp đồng ủy quyền:

-Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng song vụ:

Bên ủy quyền có quyền yêu cầu bên được ủy quyền thực hiện đúng phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ cung cấp thông tin, giấy tờ liên quan đến việc thực hiện công việc của bên ủy quyền

Bên được ủy quyền phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được ủy quyền trong quan hệ với người thứ ba

– Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù:

Nếu bên thực hiện việc ủy quyền nhận thù lao thì hợp đồng ủy quyền là hợp đồng có đền bù. Nếu bên thực hiện việc ủy quyền không nhận thù lao mà thực hiện công việc ủy quyền mang tính chất giúp đỡ, tương trợ bên ủy quyền thì đó là hợp đồng không có đền bù.

Câu 38: Căn cứ để chấm dứt ủy quyền?

Đáp án:

Hợp đồng ủy quyền chấm dứt theo các căn cứ chung về chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra, hợp đồng ủy quyền có căn cứ chấm dứt riêng

– Hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi hết thời hạn:

+ Việc ủy quyền phải lập thành văn bản đã xác định rõ thời hạn ủy quyền. Trong thời hạn đó, bên được ủy quyền phải thực hiện xong công việc đã được ủy quyền. Trong trường hợp bên được ủy quyền chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong nghĩa vụ của mình vì những lý do khách quan, chủ quan mà việc ủy quyền hết thời hạn thì hợp đồng ủy quyền chấm dứt.

Bên được ủy quyền đã thực hiện xong công việc ủy quyền và giao lại kết quả công việc cho bên ủy quyền

– Hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi một trong hai bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp bên được ủy quyền vi phạm nghĩa vụ ủy quyền, bên ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc bên được ủy quyền đã thực hiện được 1 số công việc nhưng sau đó vi phạm hợp đồng, bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.

– Một trong hai bên chết, hợp đồng ủy quyền chấm dứt. Hợp đồng ủy quyền do các bên trực tiếp thực hiện, do vậy nếu 1 bên chết thì chấm dứt hợp đồng ủy quyền.

Câu 39: Mối quan hệ của các chủ thể trong hợp đồng ủy quyền?

Đáp án:

Trên cơ sở hợp đồng ủy quyền, người được ủy quyền đại diện cho người ủy quyền thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền. Vì vậy, đại diện theo ủy quyền có hai mối quan hệ pháp lý cùng tồn tại.

  •  Quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền. Người được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi ủy quyền

– Quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba của giao dịch. Người được ủy quyền với tư cách của người đã ủy quyền giao kết hoặc thực hiện các giao dịch dân sự với người thứ ba. Người được ủy quyền có những quyền và nghĩa vụ nhất định với người thứ ba của giao dịch.

Câu 40: Trình bày về trường hợp ủy quyền lại?

Đáp án:

Bên được ủy quyền được ủy quyền lại cho người khác trong trường hợp sau đây:

– Có sự đồng ý của bên ủy quyền;

– Do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được.

Việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu.

Hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu.

Câu 41: Trình bày đặc điểm pháp lý, đối tượng, chủ thể của hợp đồng dịch vụ?

Đáp án:

Điều 513 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

+ Đặc điểm pháp lý của hợp đồng dịch vụ:

Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí nhất định và giao kết quả cho bên thuê dịch vụ

Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng có đền bù. Bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ, khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện công việc và mang lại kết quả như đã thỏa thuận

Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ. Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lý theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ.

+ Đối tượng của hợp đồng dịch vụ:

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

+ Chủ thể của hợp đồng dịch vụ:

Chủ thể của hợp đồng dịch vụ gồm bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.

Câu 42: Trình bày về trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ?

Đáp án:

Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.

Trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Câu 43: Trình bày quy định về tiếp tục hợp đồng dịch vụ?

Đáp án:

Sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành.

Câu 44: Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất?

Đáp án:

Cơ sở pháp lí cho việc thiết lập quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 59 Luật đất đai 2013 về Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trên nguyên tắc không được ủy quyền trong việc quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất bao gồm:

– Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất.

Nhà nước giao đất cho cá nhân và các chủ thể khác và thông qua cơ quan có thẩm quyền để trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể thông qua hình thức thuê đất. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với những trường hợp hộ gia đình, cá nhân có sử dụng đất ổn định lâu dài phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đất được xác định là không có tranh chấp.

– Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của BLDS và pháp luật đất đai.

Trong phạm vi quyền sử dụng đất, chủ thể có quyền chuyển quyền sử dụng đất. Việc chuyển quyền sử dụng đất phải tuân thủ các quy định của BLDS và pháp luật đất đai.

Câu 45: Trình bày nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất?

Đáp án:

+ Nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất:

Quy định chung về hợp đồng và nội dung của hợp đồng thông dụng có liên quan trong Bộ luật này cũng được áp dụng với hợp đồng về quyền sử dụng đất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nội dung của hợp đồng về quyền sử dụng đất không được trái với quy định về mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Như vậy, nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất về cơ bản không khác biệt với các hợp đồng khác mà chỉ chịu ràng buộc bởi các quy định của Luật đất đai liên quan đến điều kiện chuyển quyền.

+ Hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất:

Điều 500 BLDS quy định ” Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”

Điều 502 BLDS quy định Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của BLDS, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định các bên đã tham gia vào hợp đồng. Thông qua đó, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, xác định trách nhiệm của người vi phạm hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.

CHƯƠNG VIII: HỨA THƯỞNG VÀ THI CÓ GIẢI 

Câu 1: Trình bày khái niệm hứa thưởng?

Đáp án:

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đa phương hoặc đơn phương của chủ thể nhằm đạt tới một hậu quả pháp lý nhất định. Hứa thưởng là hành vi pháp lí đơn phương của một bên chủ thể đưa ra những điều kiện nhất định, điều kiện này phải cụ thể, rõ ràng, không bị pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội. Đối tượng của việc hứa thưởng là một công việc như: tìm kiếm một tài sản, hoàn thành một công việc nào đó,..

Khi chủ thể thứ hai đã thực hiện được công việc mà người hứa thưởng nêu ra, họ có quyền yêu cầu người hứa thưởng phải trả thưởng như đã tuyên bố. Việc trả thưởng phải được tuyên bố cụ thể như một số tiền, một số đồ vật (tài sản) hoặc người hứa thưởng phải làm cho bên kia một công việc nào đó.

Như vậy, hứa thưởng là cam kết của một bên sẽ thực hiện nghĩa vụ trả thưởng nếu một bên khác đã thực hiện được những điều kiện do bên hứa thưởng đưa ra. Những điều kiện này không trái pháp luật và đạo đức xã hội theo quy định tại ĐIều 570 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS)

Câu 2: Trình bày nội dung của hứa thưởng?

Đáp án:

+ Bên hứa thưởng

Là cá nhân hoặc pháp nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có nghĩa vụ phải tiếp nhận kết quả công việc mà người khác đã thực hiện xong, đúng với các điều kiện mà bên hứa thưởng đưa ra.

Bên hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng nếu chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc. Trường hợp này bên hứa thưởng phải tuyên bố về thời hạn bắt đầu thực hiện công việc. Nếu tuyên bố hứa thưởng không quy định về thời hạn bắt đầu thực hiện công việc thì việc tuyên bố đó có hiệu lực kể từ khi tuyên bố công khai. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã công bố.

Bên hứa thưởng có thể tuyên bố về thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc công việc. Trong khoảng thời gian đó, bên hứa thưởng phải thực hiện cam kết của mình nếu người khác đã thực hiện xong những điều kiện hứa thưởng. Hết thời gian đó, bên hứa thưởng không buộc phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc không đúng thời hạn

+ Bên được trả thưởng

Là người đã hoàn thành công việc mà bên hứa thưởng tuyên bố. Sau khi thực hiện xong công việc phải bàn giao lại cho bên hứa thưởng và nhận phần thưởng do bên trả thưởng trả.

Câu 3: Trình bày đặc điểm của hứa thưởng?

Đáp án:

– Việc hứa thưởng là một hành vi pháp lý đơn phương; Trong hoạt động hứa thưởng chỉ thể hiện ý chí đơn phương của bên đưa ra lời hứa thưởng.

– Là nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng; Giữa các bên chủ thể trong quan hệ này không có hợp đồng. Mà trong việc tuyên bố hứa thưởng, quan hệ nghĩa vụ phát sinh kể từ khi người thực hiện công việc được hứa thưởng hoàn thành công việc theo yêu cầu. Khi đó, bên hứa thưởng có nghĩa vụ thực hiện việc trả thưởng như đã tuyên bố trước đây.

Câu 4: Trình bày về các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh do hứa thưởng?

Đáp án:

  • Chủ thể trong quan hệ này bao gồm 2 bên:

+ Bên có nghĩa vụ: là bên đã đưa ra cam kết hứa thưởng. Bên này có nghĩa vụ phải trả thưởng theo nội dung đã công bố.

+ Bên có quyền: là người đã hoàn thành công việc hứa thưởng đúng với yêu cầu mà bên hứa thưởng đã nêu trong tuyên bố hứa thưởng. Bên này có quyền nhận thưởng mà bên hứa thưởng đã cam kết. Bên có quyền này có thể là do một người thực hiện hoặc do nhiều người thực hiện.

Câu 5: Trình bày về quy định rút lại tuyên bố hứa thưởng?

Đáp án:

Khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc thì người hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố.

Quy định này nhằm đảm bảo quyền tự do giao kết hợp đồng giữa các bên, bên hứa thưởng có thể rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng chỉ được chấp nhận khi:

– Rút lại tuyên bố hứa thưởng thực hiện khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc. Khi không có quy định về thời hạn bắt đầu thực hiện công việc, thì rút tuyên bố hứa thưởng được phải được thực hiện trước khi bên được nhận thưởng bắt đầu thực hiện công việc

– Việc rút tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố. Nếu vi phạm quy định này thì việc rút tuyên bố sẽ không có hiệu lực pháp luật và bên hứa thưởng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả thưởng hoặc bồi thường thiệt hại.

Câu 6: Trình bày quy định về trả thưởng?

Đáp án:

– Trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng.

– Khi một công việc được hứa thưởng do nhiều người cùng thực hiện nhưng mỗi người thực hiện độc lập với nhau thì người hoàn thành đầu tiên được nhận thưởng.

– Trường hợp nhiều người cùng hoàn thành công việc được hứa thưởng vào cùng một thời điểm thì phần thưởng được chia đều cho những người đó.  Trường hợp này họ thực hiện một loại công việc giống nhau, thời gian giao kết quả công việc trùng nhau và có một phần thưởng duy nhất. Cũng có thể cùng một loại công việc nhưng có nhiều phần thưởng, người nào hoàn thành công việc đó đúng thời hạn sẽ được nhận một phần thưởng riêng. Điều này phụ thuộc vào việc tuyên bố trả thưởng.

– Trường hợp nhiều người cùng cộng tác để thực hiện công việc được hứa thưởng do người hứa thưởng yêu cầu thì mỗi người được nhận một phần của phần thưởng tương ứng với phần đóng góp của mình.

Câu 7: Trình bày về khái niệm thi có giải?

Đáp án:

Thi có giải là việc tuyên bố công khai các điều kiện dự thi trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thể thao, khoa học kĩ thuật… Nội dung các cuộc thi này không trái với pháp luật, đạo đức xã hội (Điều 573 Bộ luật dân sự năm 2015).

Câu 8: Trình bày quy định về nội dung thi có giải?

Đáp án:

+ Bên tổ chức cuộc thi

Cá nhân, tổ chức đều có quyền tổ chức các cuộc thi có giải, các cuộc thi này không vi phạm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Ngoài ra, để thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức, doanh nghiệp và tạo điều kiện cho mọi người trong một đơn vị phát huy tính sáng tạo, tài năng của họ, các cơ quan, doanh nghiệp có thể tổ chức cuộc thi có thưởng trong phạm vi đơn vị mình. Điều kiện cuộc thi cần phải rõ ràng, cụ thể và việc trao giải thưởng là nghĩa vụ của đơn vị tổ chức cuộc thi.

Bên tổ chức cuộc thi có nghĩa vụ nhận kết quả công việc của những người dự thi, tổ chức đánh giá công việc một cách khách quan. Nếu cuộc thi không phải là một công việc cụ thể, bên tổ chức cuộc thi phải chuẩn bị các điều kiện vật chất cho cuộc thi. Trường hợp cuộc thi được chia thành nhiều giai đoạn (công đoạn), ban tổ chức cuộc thi phải tổ chức đánh giá từng giai đoạn của cuộc thi và thông báo kết quả cho những người tham gia cuộc thi biết. Kết thúc các giai đoạn thi, ban tổ chức cuộc thi phải tổng kết toàn bộ để tìm người đoạt giải thưởng.

Bên tổ chức cuộc thi có nghĩa vụ trao giải thưởng cho những người đã đoạt giải trong cuộc thi. Giải thưởng được trao cho những người thực hiện công việc tốt nhất hoặc có kết quả cao nhất. Một cuộc thi có thể có nhiều giải thưởng. Tuỳ thuộc vào việc tuyên bố giải thưởng ban đầu, người tổ chức cuộc thi sẽ đánh giá kết quả, xếp loại công việc và trao giải thưởng theo từng loại đó.

+ Người đoạt giải

Có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tuỳ thuộc vào tính chất cuộc thi, ban tổ chức cuộc thi tuyển chọn trong số những người tham gia cuộc thi. Người đoạt giải có quyền yêu cầu bên tổ chức cuộc thi trao phần thưởng như đã tuyên bổ (khoản 3 Điều 573 Bộ luật dân sự năm 2015).

Câu 9: Điều kiện để tổ chức thi có giải?

Đáp án:

Mục đích của thi có giải có thể là nhằm củng cố tinh thần cho các chủ thể, giải trí, tìm kiếm nhân tài trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, để ổn định các quan hệ xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia, pháp luật buộc chủ thể tổ chức cuộc thi có giải phải đảm bảo tuân thủ các điều kiện về việc mục đích, nội dung cuộc thi không được vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Thi có giải cũng là một loại giao dịch dân sự nên việc tổ chức một cuộc thi có giải cũng phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Câu 10: Nêu ý nghĩa của nội dung thi có giải?

Đáp án:

Trong cuộc sống hàng ngày, để cổ vũ, phát động tinh thi đua học tập, lao động, sản xuất hoặc để hưởng ứng các phong trào thi đua của các tổ chức đoàn thể, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thể tổ chức các cuộc thi có giải. Thi có giải cũng là một loại giao dịch dân sự được thể hiện dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương và chịu sự điều chỉnh của pháp luật.

CHƯƠNG IX: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN, NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ DO CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN, ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT

Câu 1: Trình bày khái niệm thực hiện công việc không có ủy quyền?

Đáp án:

Điều 574 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

Câu 2: Trình bày điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ của các bên khi thực hiện công việc không có ủy quyền?

Đáp án:

+ Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó

Trong thực tế, có những trường hợp một người hoàn toàn tự nguyện làm thay công việc cho người khác trên tinh thần tương thân, tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn tạm thời nên giữa họ không có mối quan hệ pháp lí nào về công việc được thực hiện. Ví dụ: tự quản lí tài sản khi chủ sở hữu đi vắng.

Công việc thực hiện trong quan hệ pháp luật này không phải là một nghĩa vụ pháp lí có tính chất bắt buộc. Trước thời điểm thực hiện công việc, hai bên chủ thể hoàn toàn không có sự ràng buộc. Pháp luật chỉ quy định người thực hiện công việc đó có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. Tuy nhiên, khi đã thực hiện thì người thực hiện phải có thiện chí và phải tuân thủ quy định về Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền.

+ Thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc

Trước khi tiến hành công việc, người thực hiện công việc phải ý thức được nếu công việc đó không có ai thực hiện có thể gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người có công việc. Chủ sở hữu hoặc người có công việc sẽ mất đi một số lợi ích vật chất nhất định. Người thực hiện công việc coi đó là bổn phận của mình và phải xuất phát từ lợi ích của người có công việc để thực hiện những hành vi phù hợp. Tuy nhiên, khi thực hiện công việc mà biết trước hoặc đoán được ý định của người có công việc thì phải thực hiện đúng ý định đó.

Câu 3: Trình bày nội dung, hậu quả của việc thực hiện công việc không có ủy quyền?

Đáp án:

+ Nghĩa vụ của người thực hiện công việc:

Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình.

Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.

Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó.

Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.

Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.

+ Nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện

-Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện:

Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.

Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.

-Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại:

Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.

Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường.

Câu 4: Trình bày về trường hợp chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền?

Đáp án:

Việc thực hiện công việc không có ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện.

– Người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc.

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc theo quy định “Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.”

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.

Câu 5: Trình bảy về nghĩa vụ hoàn trả?

Đáp án:

Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.” (Điều 236 BLDS)

Câu 6: Trình bày về quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả?

Đáp án:

Trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại.

Câu 7: Trình bày về nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản ngay tình?

Đáp án:

Nếu người chiếm hữu, sử dụng tài sản chưa làm hư hỏng phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu trong tình trạng chủ sở hữu phát hiện được hoặc người chiếm hữu, sử dụng biết được hoặc phải biết mình đang chiếm hữu tài sản của người khác

– Khi trả lại tài sản, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng đó là không có căn cứ pháp luật. Nếu người đó cố tình chiếm hữu, sử dụng tài sản phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản kể từ thời điểm chiếm hữu và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu (nếu có). Trường hợp này, hành vi của người chiếm hữu, sử dụng là ngay tình nhưng do cố ý chiếm hữu, sử dụng tài sản nên đã trở thành không ngay tình.

Câu 8: Trình bày về nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình?

Chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình là việc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Người có hành vi trái pháp luật phải khắc phục hậu quả cho người chủ sở hữu tài sản. Ngài việc phải trả lại tài sản như trong tình trạng mình chiếm hữu bất hợp pháp còn phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó trong suốt cả thời gian chiếm hữu, sử dụng. Nếu do việc chiếm hữu bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản ( như thu nhập bị mất từ tài sản) thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Câu 9: Trình bày về nghĩa vụ của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp?

– Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đã nhận được tài sản của mình phải thanh toán cho người chiếm hữu ngay tình những chi phí cần thiết, hợp lý để bảo quản, sửa chữa tài sản. Sự cần thiết đó được biểu hiện: trong điều kiện bình thường thì chủ sở hữu cung phải bỏ ra chi phí nếu không tài sản sẽ hư hỏng, giảm bớt chất lượng.

– Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi nhận tài sản phải thanh toán những chi phí làm tăng giá trị của tài sản. Xét về ý thức chủ quan, người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ nhưng ngay tình, chưa biết được tài sản đó là của người khác, tự họ bỏ ra những chi phí làm tăng giá trị tài sản để thỏa mãn lợi ích của chính họ, lợi ích đó được coi là hợp pháp. Nhưng khi chủ sở hữu phát hiện được, người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật đó vẫn tiếp tục chi phí để làm tăng giá trị của tài sản thì không có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản phải thanh toán. Trường hợp này, người thực tế đang chiếm hữu tài sản phải hoàn trả ngay tài sản cho chủ sở hữu, chủ sở hữu sẽ quyết định số phận thực tế của tài sản.

Câu 10: Trình bày về nghĩa vụ hoàn trả tài sản do được lợi không có căn cứ pháp luật?

Đáp án:

Sự chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thường dựa trên căn cứ pháp lý như mua bán, vay, mượn, thừa kế,.. Trong thực tế, có trường hợp tài sản của người này chuyển sang người khác không dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Nếu do hành vi bất hợp pháp chiếm đoạt tài sản của người khác thì người chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình phải hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.

Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là sự phát sinh quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của một chủ thể đối với một tài sản nhưng không dựa trên căn cứ pháp luật quy định. Người được lợi về tài sản không biết tài sản đó là của người khác mà coi tài sản đó là của mình.

Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật làm giảm sút 1 phần khối tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác nhưng không phải hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản. Do đó, không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Người được lợi về tài sản của người khác phải hoàn trả cho chủ sở hữu khoản lợi đó.

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại, người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra kể cả thu nhập bị mất, bị giảm sút do chủ sở hữu không sử dụng được tài sản.

Câu 11: Điều kiện phát sinh nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật?

Đáp án:

+ Phải có thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu:

Thiệt hại trong trường hợp này được hiểu là sự mất mát tài sản, thiếu hụt một phần trong khối tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, chủ sở hữu không còn tài sản để sử dụng. Do vậy, tài sản của chủ sở hữu không gia tăng hoặc chủ sở hữu không thu được hoa lợi từ việc khai thác công dụng của tài sản.

+ Được lợi tài sản không dựa trên căn cứ pháp luật:

Pháp luật quy định một số căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu, chiếm hữu tài sản như: thông qua hợp đồng dân sự, được thừa kế,..

Việc được lợi tài sản bắt đầu ngay từ thời điểm chiếm hữu tài sản không dựa trên căn cứ cụ thể do luật định. Một số trường hợp, khi chiếm hữu tài sản có căn cứ như thông qua các hợp đồng hoặc bản án dân sự có hiệu lực nhưng sau đó hợp đồng bị vô hiệu hoặc bản án bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, việc chiếm hữu của một người từ việc có căn cứ pháp luật chuyển thành chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Tùy trường hợp cụ thể mà xác định đó là hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hay được lợi về tài sản.

+ Người được lợi về tài sản không có lỗi:

Khi được lợi tài sản, người được lợi không biết mà coi tài sản đó là của mình. Nếu người được lợi tài sản biết được tài sản đó không phải của mình thì phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc giao nộp cho ủy ban nhân dân xã, phường theo quy định về Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu.

Nếu người được lợi cố ý chiếm hữu tài sản thì phải chịu trách nhiệm về hành vi chiếm hữu tài sản do được lợi của mình. Trong trường hợp này, họ trở thành người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, không ngay tình.

Câu 12: Trình bày về nghĩa vụ của người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật?

Đáp án:

+ Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức:

Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định về Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

+ Nghĩa vụ thanh toán:

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản.

CHƯƠNG X: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 

Câu 1: Trình bày điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

Đáp án:

+ Có thiệt hại xảy ra:

Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác.

Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.

Trong trách nhiệm hình sự đối với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi có hậu quả vật chất. Ngay đối với một số tội có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt, hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại, đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi phạm các quy định về an toàn giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm.

Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm trọng cũng phải bồi thường. Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường.

+ Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật:

Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền tuyệt đối đó.

Điều 584 BLDS quy định “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Điều luật này xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 3 BLDS ” Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.”

Việc xâm phạm mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân sư.

Hành vi gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng hành động. Chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi đó.

Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện các hành vi đó. Ví dụ: nhân viên phòng cháy chữa cháy có thể phá hủy nhà dễ cháy xung quanh đám cháy, bác sĩ cắt bỏ các bộ phận hoặc làm các phẫu thuật khác,..Trong trường hợp này, người gây thiệt hại không phải bồi thường. Người gây thiệt hại cũng không phải bồi thường trong trường hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc có sự đồng ý của người bị hại. Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tinh thế cấp thiết thì người gây ra thiệt hại vẫn phải BTTH.

+ Lỗi của người gây ra thiệt hại:

Về nguyên tắc, một người bị áp dụng cưỡng chế nhà nước thì họ phải có hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý. Tuy nhiên trong quan hệ dân sự có những trường hợp ngoại lệ là người không có hành vi trái pháp luật, không có lỗi vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự,..

Lỗi là một trong 4 điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Nhưng lỗi trong trách nhiệm dân sự có những trường hợp là lỗi suy đoán bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có lỗi. Điều này được thể hiện ở khoản 3 Điều 586 BLDS “nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.” Người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp không thể chứng minh được, nếu buộc họ phải chứng minh sẽ bị bất lợi cho họ. Vì vậy, người bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh.

+ Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật:

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại. Điều này được quy định tại Điều 584 BLDS dưới dạng ” người nào… xâm phạm.. mà gây thiệt hại” đến tính mạng, tài sản,.. là nguyên nhân và thiệt hại là hậu quả của hành vi đó. Tuy nhiên, xác định mối tương quan nhân quả là vấn đề phức tạp.

Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó, cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây ra thiệt hại.

Câu 2: Quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân?

Đáp án:

+ Đối với người từ đủ mười tám tuổi trở lên:

Khoản 1 Điều 586 BLDS quy định Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải tự bồi thường thiệt hại do họ gây ra. Điều này xuất phát từ “khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Họ phải chịu trách nhiệm do hành vi trái pháp luật của họ bằng tài sản của chính họ.

Tuy nhiên, trong điều kiện này, nhiều người tuy có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng khả năng về tài sản của họ trên thực tế không có ( người 18 tuổi không có bất cứ khoản thu nhập nào, họ không có tài sản riêng để bồi thường). Vì vậy, khi quyết định bồi thường đối với những người này, có thể động viên cha mẹ bồi thường thay cho con em họ, nếu cha mẹ tư nguyện bồi thường thì ghi nhận sự tự nguyện đó mà không buộc cha mẹ bồi thường thay cho con em họ

Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, cha mẹ là người phải bồi thường thiệt hại do con em họ gây ra. Tuy nhiên, cách thức dùng tài sản để bồi thường được quy định đối với những người chưa thành niên khác nhau

+ Đối với người chưa đủ 15 tuổi và người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi:

Khoản 2 Điều 586 BLDS quy định “Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định về Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.”

Đối với người dưới 15 tuổi thì cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường, nếu tài sản của cha mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường. Đối với những người từ 15 đến dưới 18 tuổi thì áp dụng ngược lại, lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu trách nhiệm bổ sung phần còn thiếu.

+ Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:

Pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của những người này tại Khoản 3 Điều 586 BLDS, cụ thể: Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Những người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thời gian ở trường học, bệnh viện quản lí thì trường học, bệnh viện phải bồi thường. Nếu các tổ chức nêu trên mà không có lỗi thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường.

Thời gian quản lý được hiểu là thời hạn trong đó các tổ chức theo quy định về nghề nghiệp có nghĩa vụ giáo dục, chữa bệnh mà họ đã không thực hiện chức năng của họ, do lỗi của họ quản lý không tốt, người không có năng lực hành vi, người dưới 15 tuổi gây ra thiệt hại cho những người khác. Nếu cơ quan, tổ chức quản lý không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường thiệt hại

Ví dụ: tổ chức lao động cho các học sinh không tốt ;đi tham quan, dã ngoại do trường tổ chức không có các biện pháp an toàn, bảo hộ; nhân viên bệnh viện không có biện pháp quản lý bệnh nhân tâm thần,.. 

Người giám hộ đương nhiên, giám hộ được cử đối với những người phải có giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường, người giám hộ có nghĩa vụ bổ sung. Tuy nhiên, nếu họ chứng minh được rằng họ không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Trong trường hợp này sẽ không có người bồi thường thiệt hại bởi những người được giám hộ không có khả năng về năng lực hành vi để bồi thường, nếu họ có tài sản, có thể dùng tài sản của họ để bồi thường.

Câu 3: Trình bày nguyên tắc bồi thường thiệt hại?

Đáp án:

Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại tại Điều 585.

+ Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời:

Nguyên tắc chung là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Khoản 1 Điều 585 quy định “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

+ Giảm mức bồi thường:

Tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi của bản án, quyết định của tòa án, phù hợp với những điều kiện thực tế của các đương sự trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Khoản 2 Điều 585 quy định “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.”

Quy định này không quy định về việc giảm mức bồi thường là bao nhiêu. Việc giải quyết mức bồi thường phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ lỗi của người bị thiệt hại, người gây ra thiệt hại (vô ý nặng, nhẹ) Tòa án phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định giảm mức bồi thường

Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắc và lâu dài của người gây thiệt hại là cơ sở để giảm mức bồi thường. Cần phân biệt giảm mức bồi thường với việc tạm hoãn thi hành án. Trong thi hành án, người không có khả năng kinh tế trước mắc có thể được tạm hoãn thi hành án

+ Trường hợp mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế:

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Mức bồi thường thiệt hại có thể do các bên thỏa thuận hoặc tòa án quyết định. Tuy nhiên, mức bồi thường đã thỏa thuận và quyết định có thể bị thay đổi nếu mức bồi thường ” không còn phù hợp với thực tế” Việc xem xét các điều kiện thực tế và xác định sự phù hợp căn cứ vào yêu cầu của các bên, thực tế cần phải thay đổi mức bồi thường như người được bồi thường tăng thu nhập, phải chi phí thêm để chữa bệnh,.. Việc xem xét tăng hoặc giảm mức bồi thường do tòa án xác định theo yêu cầu của các bên

+ Trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại:

Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

+ Đối với bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm:

Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Câu 4: Ý nghĩa của việc quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại?

Đáp án:

Bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra là nguyên tắc công bằng, hợp lí phù hợp với mục đích và chức năng phục hồi của chế định pháp luật này. Bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Điều này có ý nghĩa quan trọng khi thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của cá nhân bị xâm hại. Việc quyết định bồi thường kịp thời có ý nghĩa lớn đối với nạn nhân trong việc cứu chữa, hạn chế thiệt hại bởi các chi phí cho việc cứu chữa bệnh nhân trong điều kiện này nhiều khi vượt quá khả năng của nạn nhân. Việc quy định về thủ tục tố tụng để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này là rất cần thiết.

Câu 5: Trình bày quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra?

Đáp án:

Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định về Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra tại điều 587 như sau: Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhiều người cùng gây thiệt hại là trách nhiệm liên đới bồi thường của những người cùng gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại. Cơ sở để xác định trách nhiệm liên đới bồi thường khi nhiều người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại là có hành vi cùng gây thiệt hại của những người gây thiệt hại.

Nhiều người cùng gây thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định trên có thể xảy ra một trong hai trường hợp:

– Nhiều người gây thiệt hại cho một người

– Nhiều người gây thiệt hại cho nhiều người

Câu 6: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra?

Đáp án:

Khi xem xét về trách nhiệm bồi thường của nhiều người cùng gây thiệt hại thì cần phải căn cứ vào những điều kiện sau:

+ Có việc gây thiệt hại của nhiều người:

Hành vi trái pháp luật của những người gây ra thiệt hại thể hiện sự vi phạm pháp luật của mỗi người trong việc gây ra thiệt hại hoặc trong lĩnh vực hoạt động của từng người đó.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra không thể phát sinh khi chỉ có một người gây thiệt hại mà việc gây thiệt hại đó phải do nhiều người thực hiện. Người gây thiệt hại có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc bất cứ chủ thể nào khác nhưng phải có từ hai chủ thể trở lên, nếu chỉ có một người gây thiệt hại thì không phát sinh loại trách nhiệm này.

Trên thực tế, có trường hợp một người gây thiệt hại cho nhiều người, nếu thiệt hại của những người gây thiệt hại là một khối thống nhất thì phát sinh trách nhiệm liên đới nhưng đây là quyền liên đới của nhiều người đối với một người có nghĩa vụ, trường hợp này không thuộc quy định tại Điều 587 BLDS. Nếu nhiều người gây thiệt hại cho một hoặc nhiều người thì cũng có thể phát sinh trách nhiệm liên đới nhưng liên đới trong trường hợp này là trách nhiệm liên đới của nhiều người có nghĩa vụ, người có quyền (bị thiệt hại) có thể là một hoặc nhiều người. Đây là trường hợp bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra theo Điều 587 BLDS.

+ Hành vi trái pháp luật trong việc gây thiệt hại của nhiều người có sự thống nhất với nhau:

Để phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường giữa những người gây thiệt hại thì giữa họ phải có sự thống nhất về hành vi gây thiệt hại.

Trường hợp những người gây thiệt hại có sự thống nhất ý chí trong việc gây thiệt hại, tuy nhiên mức độ thực hiện của từng người có thể khác.

Ví dụ: A, B, C cùng bàn bạc, thỏa thuận phá vườn của D. A, B, C phân công công việc cụ thể: A đi mua thuốc trừ sâu và xịt thuốc vào vườn của D; B đánh lạc hướng chuốc say D; C canh cho A. Trong trường hợp này, hành vi gây thiệt hại cho D là do A xịt thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, hành vi của A, B và C bị coi là cùng gây thiệt hại, do đó, phát sinh trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường thiệt hại cho D. Hành vi của những người gây thiệt hại ngoài sự thống nhất ý chí còn cần có cả ở hậu quả của hành vi cùng gây thiệt hại.

Cũng với ví dụ trên, trong khi đang canh cho A, C thấy E đi ngang qua, sợ bị bại lộ nên C đã giết chết E. Như vậy, trong trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tính mạng của E không phát sinh đối với A, B hay không phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại giữa A, B và C đối với thiệt hại do tính mạng của E bị xâm phạm.

Như vậy, cùng gây thiệt hại được hiểu là hành vi của những người gây thiệt hại đều là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đã xảy ra, không phụ thuộc vào việc hành vi của từng người là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến thiệt hại. Cùng gây thiệt hại có thể là do họ cùng có lỗi cố ý ( cùng thống nhất ý chí) trong việc gây ra thiệt hại. Có thể cùng một dạng hành vi (hai người cùng trộm cắp tài sản của một người ), có thể các hành vi được mỗi người thực hiện riêng biệt nhưng tạo thành một xâu chuỗi công việc thống nhất gây ra thiệt hại.

Những người gây thiệt hại có cùng ý chí trong việc gây ra thiệt hại thường thể hiện trong các vụ án có tính đồng phạm. Tóm lại, cùng gây thiệt hại được hiểu là tổng hợp hành vi, lỗi của nhiều người diễn ra dưới các dạng khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên kết, tương hỗ và cùng gây ra thiệt hại cho đối tượng bị thiệt hại

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của những người cùng gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra:

Hành vi gây thiệt hại của những người cùng gây thiệt hại có thể khác nhau về mức độ nhưng cùng đem lại hậu quả là thiệt hại cho người bị thiệt hại. Xét trong mối quan hệ nhân quả  này thì hành vi trái pháp luật của những người cùng gây thiệt hại đã gây ra tổng thể thiệt hại cho người bị thiệt hại, do đó những người thực hiện hành vi này phải cùng nhau bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại. Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của những người cùng gây thiệt hại cho người bị thiệt hại, ngoài ý nghĩa xác định trách nhiệm bồi thường liên đới của những người này còn có ý nghĩa trong việc xác định mức bồi thường

+ Có lỗi của những người cùng gây thiệt hại:

Một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của hành vi gây thiệt hại đó, trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định như bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có thể phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi. Pháp luật dân sự quy định một người phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi người này có lỗi, không kể lỗi đó là vô ý hay cố ý.

Câu 7: Mức bồi thường trong trách nhiệm bồi thường liên đới khi nhiều người cùng gây thiệt hại?

Đáp án:

Nguyên tắc chung khi nhiều người cùng gây thiệt hại là họ phải chịu ưách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, do đó nếu chúng ta xác định được mức độ lỗi của từng người thì người gây thiệt hại sẽ bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi đó. Nếu không xác định được mức độ lỗi của từng người thì họ phải bồi thường bằng nhau.

Theo quy định trên, khi có nhiều người cùng gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định như sau:

– Nguyên tắc chung, một người chỉ phải chịu ừách nhiệm do hành vi của mình gây ra cũng như hậu quả của hành vi đó. Do đó, nếu chúng ta xác định mức độ lỗi của mỗi người khi họ gây thiệt hại thì họ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi đó. Tuy nhiên, đây là vấn đề tương đối phức tạp khi chúng ta xác định lỗi của mỗi người trong số những người cùng gây thiệt hại – bởi vì lỗi là yếu tố mang tính chủ quan. Mặc dù vậy, đánh giá lỗi là vấn đề mang tính khách quan, do đó chúng ta sẽ xem xét mức độ lỗi, hình thức lỗi của những người gây thiệt hại để buộc họ bồi thường cho họp lí.

– Nếu không xác định được mức độ lỗi của những người gây thiệt hại thì họ phải bồi thường bằng nhau. Ở đây chúng ta không thể hiểu là pháp luật áp dụng nguyên tắc “cào bằng” khi có nhiều người cùng gây thiệt hại mà phải hiểu khi nhiều người cùng gây thiệt hại mà chúng ta không thể xác định được mức độ lỗi của mỗi người, do đó những người cùng gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Khi chúng ta xác định những người cùng gây thiệt hại phải bồi thường theo phần bằng nhau thì điều đó cũng không làm mất đi tính “liên đới” khi nhiều người cùng gây thiệt hại.

Câu 8: Trình bày về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại?

Đáp án:

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Câu 9: Quy định của pháp luật dân sự về xác định thiệt hại?

Đáp án:

Thiệt hại là điều kiện đầu tiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ có thể thực hiện được đầy đủ và chính xác khi xác định toàn bộ thiệt hại là bao nhiêu và trên cơ sở đó ấn định mức bồi thường.

Xác định thiệt hại là việc khó khăn và phức tạp. Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định đã về các loại thiệt hại được bồi thường và cách thức xác định thiệt hại một cách khái quát. Những thiệt hại phải bồi thường là thiệt hại về tài sản (Điều 589 BLDS), thiệt hại về sức khỏe (Điều 590 BLDS), thiệt hại về tính mạng (Điều 591 BLDS) và thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 592 BBLDS.

Câu 10: Trình bày quy định bồi thường thiệt hại về tài sản?

Đáp án:

Điều 589 BLDS quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

– Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

– Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

– Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

– Thiệt hại khác do luật quy định.

Như vậy, thiệt hại về tài sản bao gồm thiệt hại trực tiếp nhằm phục hồi tình trạng tài sản ban đầu của người bị thiệt hại và thiệt hại gián tiếp liên quan đến việc khai thác và sử dụng tài sản trong thời gian từ khi xảy ra thiệt hại đến khi bồi thường. Thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định bao gồm các khoản sau:

– Thiệt hại trực tiếp bao gồm:

+ Thiệt hại do tài sản bị mất ( tính đến tình trạng tài sản, thời giá thị trường tại thời điểm tài sản bị mất)

+ Tài sản bị hủy hoại là những tài sản không thể phục hồi chức năng ban đầu; tài sản bị hư hỏng là những chi phí hợp lí, cần thiết để phục hồi tài sản, bảo đảm tính năng sử dụng ban đầu như trước khi bị thiệt hại

+ Những chi phí phải bỏ ra bao gồm chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại

– Thiệt hại gián tiếp bao gồm:

+ Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản ( không thể khai thác tài sản trong suốt thời gian sửa chữa, khắc phục thiệt hại)

+ Những hoa lợi, lợi tức chắc chắn thu được nếu không có thiệt hại xảy ra và những chi phí cần thiết để hạn chế thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại trực tiếp về tài sản có thể thực hiện bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc. Về nguyên tắc chung, các bên có thể thỏa thuận cách thức, mức độ bồi thường như sửa chữa hư hỏng, thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương. Nếu không thể bồi thường bằng hiện vật thì trị giá tài sản để bồi thường. Khi trị giá tài sản phải căn cứ vào giá trị thị trường của loại tài sản đó có tính đến khấu hao tài sản do đã sử dụng tài sản.

Câu 11: Trình bày quy định bồi thường thiệt hại về sức khỏe?

Đáp án:

Sức khỏe của con người khó có thể xác định bằng một khoản tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về sức khỏe thực chất có ý nghĩa đền bù một phần thiệt hại về vật chất, tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn gây nên và trong có ý nghĩa là một trợ cấp cho nạn nhân, gia đình nạn nhân.

Xác định thiệt hại về sức khỏe bao gồm:

– Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại ( tiền thuốc, tiền viện phí và các dịch vụ chữa bệnh, tiền bồi dưỡng, tiền tàu xe đi viện, tiền thay thế các bộ phận giả nếu có) Nếu do yêu cầu chăm sóc nạn nhân thì chi phí trực tiếp cho người phải chăm sóc nạn nhân theo yêu cầu của cơ sở chữa bệnh.

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

– Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

– Thiệt hại khác do luật quy định, cụ thể:

+ Thu nhập bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa thu nhập trước khi xảy ra tai nạn và sau khi điều trị. Những thu nhập này phải là những thu nhập thường xuyên, hợp pháp thực tế của họ;

+ Tổn thất về tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu. Đây là khái niệm trừu tượng và không thể tính được thành tiền một cách chính xác. Việc xác định tổn thất tinh thần khi sức khỏe bị xâm phạm phụ thuộc vào từng cá nhân của người bị thiệt hại (tình trạng gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ thiệt hại và tùy thuộc vào bộ phận nào của cơ thể bị thiệt hại,..) Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe xâm phạm không quá 50 lần mức tháng lương cơ sở do nhà nước quy định.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Câu 12: Trình bày quy định bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm?

Đáp án:

Tính mạng của con người vô giá và không thể tính thành tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về tính mạng thực chất là bồi thường vật chất phải bỏ ra liên quan đến cái chết của người bị thiệt hại. Những chi phí phải bỏ ra bao gồm:

– Chi phí bỏ ra trong trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đã nêu ở trên

– Những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước khi chết, chi phí hợp lý cho việc mai táng phù hợp với phong tục, tập quán.

– Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng (con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động,..)

– Thiệt hại khác do luật quy định, cụ thể: Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Câu 13: Trình bày quy định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm?

Đáp án:

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân không thể xác định. Thực chất là xác định những tổn thất về vật chất do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm,.. nhằm phục hồi tình trạng ban đầu của người bị xâm hại. Những chi phí đó bao gồm:

– Những chi phí phải bỏ ra và thu nhập bị mất ( thu nhập chứng cứ, thời gian phải bỏ ra để khiếu nại, đăng báo cải chính,..)

– Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

– Thiệt hại khác do luật quy định.

Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Câu 14: Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm?

Đáp án:

Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:

– Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

– Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.

Câu 15: Căn cứ xác định hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng?

Đáp án:

Căn cứ vào điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng không phải là hành vi trái pháp luật và do đó người thực hiện không có lỗi. Tuy nhiên, để xác định 1 hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng, cần phải chú ý:

– Có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm tới lợi ích của chính bản thân người phòng vệ chính đáng

– Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho đối tượng bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra mà người bị thiệt hại mới có hành vi chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì không coi là phòng vệ chính đáng

– Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại. Nếu gây thiệt hại cho người không có hành vi xâm hại thì không coi là phòng vệ chính đáng mà coi là gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu có đủ điều kiện.

– Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải là cần thiết và tương xứng với hành vi xâm hại. Nếu không cần thiết hoặc không tương xứng thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường.

Câu 16: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng?

Đáp án:

Trường hợp người phòng vệ chính đáng gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả của hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” thì người này phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 594 BLDS, cụ thể “Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”

Hiểu hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là khi bị người khác gây thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại nhưng do có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ tấn công, điều kiện hoàn cảnh của hành vi tấn công và hành vi chống trả do đó vượt quá giới hạn cần thiết nên đã gây thiệt hại cho người có hành vi gây thiệt hại ban đầu. Do đó, hành vi của họ đã vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng Việc vượt quá giới hạn đó bị coi là trái pháp luật, vì vậy họ phải bồi thường thiệt hại.

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được coi là một tình tiết giảm nhẹ trong trách nhiệm hình sự nhưng không thể làm cơ sở để giảm mức bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm dân sự vì đó là hành vi bất hợp pháp

Nếu gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại với nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu. Tuy nhiên, trong trường hợp này cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi nên cần xác định trách nhiệm đối với 2 bên.

Câu 17: Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tỏng trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết?

Đáp án:

Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị coi là tội phạm. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người thực hiện hành vi phạm tội với Nhà nước, còn trách nhiệm dân sự (bồi thường) là trách nhiệm giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.

Khoản 1 Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ quy định này, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu nếu như người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải chịu trách nhiệm hình sự thì dưới góc độ pháp luật dân sự, họ cũng không phải bồi thường. Chỉ coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất: Có một nguy cơ đang thực tế đe dọa cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cần lưu ý rằng, tình thế cấp thiết chỉ là “nguy cơ” đe dọa gây thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra. Do đó, bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải cân nhắc tính toán về nguy cơ này. Nguy cơ gây thiệt hại đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ có thể xuất phát từ hành vi trái pháp luật của con người, tác động của thiên nhiên (bão, lũ, cháy…), súc vật tấn công…

Thứ hai: Nguy cơ phải có thực, tức là phải đang bắt đầu, đang diễn ra và chưa kết thúc. Nếu nguy cơ không có thực, đã xảy ra rồi thì không thể tồn tại tình thế cấp thiết.

Thứ ba: Nguy cơ đang đe dọa lợi ích được pháp luật bảo vệ, điều đó có nghĩa là những lợi ích này phải hợp pháp. Đối với các lợi ích không hợp pháp thì không thể viện dẫn là gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Thứ tư: Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là biện pháp tốt nhất để ngăn chặn thiệt hại có nguy cơ xảy ra. Trong khi có một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ, với các yếu tố khách quan và chủ quan thì bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại cho một đối tượng khác (cần lưu ý là không phải gây thiệt hại cho “nguy cơ đe doạ”) để ngăn chặn thiệt hại xảy ra.

Thứ năm: Thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải là thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Khi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, bản thân người gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán giữa một bên là hậu quả có thể xảy ra cho đối tượng được pháp luật bảo vệ khi có nguy cơ đe dọa gây thiệt hại với thiệt hại mà mình sẽ gây ra trong tình thế cấp thiết. Do đó, chỉ coi là gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu thiệt hại xảy ra là nhỏ hơn so với thiệt hại cần ngăn ngừa.

Trên thực tế, có những trường hợp một người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện trên đây, tuy nhiên điều kiện thứ năm lại không được thoả mãn, tức là thiệt hại được gây ra trong tình thế cấp thiết lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Trong trường hợp người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết nhưng có sự sai lầm trong việc đánh giá giữa hậu quả của nguy cơ đe dọa với thiệt hại sẽ xảy ra, do đó họ gây ra một thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được giải quyết như thế nào? Khoản 1 Điều 595 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại”.

Người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết đã có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ gây thiệt hại của “nguy cơ đe doạ” nên họ đã gây thiệt hại vượt quá so với yêu câu của tình thế cấp thiết. Lỗi của người gây thiệt hại được xác định là lồi đối với phần vượt quá nên họ chỉ phải bồi thường thiệt hại đối với phần vượt quá mà thôi.

Nguyên tắc chung là không buộc người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp họ gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì họ phải bồi thường phần vượt quá.

Khoản 2 Điều 595 Bộ luật dân sự quy định: “Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Theo quy định này, người gây ra tình thế cấp thiết sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Mặc dù bản thân người này không phải là người trực tiếp gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên họ là người đã tạo ra “nguy cơ đe dọa gây thiệt hại” cho các lợi ích đó, do vậy họ phải là người chịu trách nhiệm bồi thường.

Pháp luật dân sự chỉ quy định người gây ra tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại do tình thế cấp thiết gây ra (họ không phải bồi thường phần vượt quá vì phần này người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết sẽ phải là người bồi thường), tuy nhiên nếu “nguy cơ đe dọa gây thiệt hại” – tức là tình thế cấp thiết không phải do con người gây ra (do thiên nhiên mang lại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết không đặt ra mà phải coi là rủi ro mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu.

Câu 18: Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra?

Đáp án:

Theo quy định tại điều 596 Bộ luật dân sự năm 2015:

  1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.
  2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Mặc dù người uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác gây thiệt hại trong tình trạng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, tức là tại thời điểm đó họ không có nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện. Tuy nhiên, trước khi uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác, bản thân họ có nhận thức về việc sử dụng chất kích thích cũng như hậu quả của việc sử dụng chất kích thích, nên bản thân họ bị coi là có lỗi đã để mình rơi vào tình trạng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Do đó, việc buộc người dùng chất kích thích gây thiệt hại phải bồi thường hoàn toàn phù hợp với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật này.

Nếu một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chỉ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Người cố ý được đề cập trong trường hợp này phải cố ý về cả ý chí và hành vi, tức là bản thân họ mong muốn người khác sử dụng chất kích thích và sử dụng mọi cách thức có thể đưa chất kích thích vào cơ thể người khác, làm cho người đó không thể phản kháng. Ví dụ, A và B khống chế và đổ rượu vào miệng C cho đến khi C say, nếu C gây thiệt hại cho D thì A và B phải bồi thường thiệt hại cho D. Chúng ta cũng cần phải nhận thức rằng, nếu một người sử dụng một điểm mạnh nào đó( địa vị xã hội, vị trí công tác, quan hệ bất bình đẳng,…) để buộc người khác uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác sẽ không bị coi là cố ý như quy định tại khoản 2 Điều này. Ví dụ, vì là sếp của B nên A đã buộc B phải uống rượu cho đến khi A say, A đe dọa nếu không uống say sẽ đuổi việc, nên B đã uống say và gây thiệt hại cho C. Trường hợp này B phải bồi thường cho C, bởi vì B vẫn có sự tự do về mặt ý chí tại thời điểm sử dụng chất kích thích, tức là khi bị A ép buộc, B hoàn toàn có quyền và có thể từ chối sử dụng rượu.

Câu 19: Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thành viên pháp nhân gây ra?

Đáp án:

Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này cần chú ý:

– Chủ thể phải bồi thường trong trường hợp này là pháp nhân, do đó cần xác định rõ các điều kiện của một tổ chức được coi là có tư cách pháp nhân hay không. Bởi trong nhiều trường hợp, thành viên của tổ chức gây thiệt hại nhưng tổ chức đó không có tư cách pháp nhân thì việc bồi thường không thuộc trường hợp này. Ví dụ: thành viên của tổ hợp tác khi thực hiện công việc của tổ hợp tác gây thiệt hại.

– Cụm từ “người của mình” theo quy định tại Điều 597 BLDS được hiểu là bất cứ thành viên nào của pháp nhân. Thành viên này có thể được pháp nhân tuyển dụng vào làm việc theo các quan hệ hợp đồng dài hạn, ngắn hạn, đang trong thời gian thử việc,..

– Thiệt hại do thành viên của mình gây ra mà phải bồi thường cho người bị thiệt hại liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ pháp nhân giao cho thành viên thực hiện.

Câu 20: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra?

Đáp án:

Điều 597 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Pháp luật quy định pháp nhân phải bồi thường thiệt hại khi thành viên của pháp nhân gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhằm xác định trách nhiệm quản lí của con người, theo dõi công việc đối với thành viên thuộc pháp nhân đó. Ngoài ra, quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại.

Trong trường hợp thành viên của pháp nhân có lỗi khi gây thiệt hại thì pháp nhân có quyền yêu cầu thành viên này phải hoàn trả. Do đó, pháp luật quy định nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Khi xác định trách nhiệm hoàn trả của thành viên, thành viên pháp nhân hoàn trả cho pháp nhân một khoản tiền theo quy định của pháp luật chứ không phải hoàn trả toàn bộ tiền mà pháp nhân đã bồi thường. Do đó, cần căn cứ vào mức độ lỗi của thành viên pháp nhân khi gây thiệt hại để xác định số tiền hoàn trả cho hợp lý.

Câu 21: Phân tích quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra?

Đáp án:

Theo quy định tại điều 598 Bộ luật dân sự năm 2015:

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Theo quy định này, khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ được áp dụng theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tức là BLDS không còn là cơ sở căn cứ pháp lý trực tiếp để giải quyết các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.

Đây là một quy định mới về hình thức thể hiện và nội dung điều chỉnh so với BLDS năm 2005. Cụ thể:

– Thứ nhất: quy định này đã gộp hai quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra (Điều 619 BLDS năm 2005) và bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra( Điều 620 BLDS năm 2005).

– Thứ hai: xác định chủ thể phải bồi thường thiệt hại là Nhà nước chứ không phải cơ quan quản lý cán bộ, công chức hay cơ quan tiến hành tố tụng.

– Thứ ba: xác định rõ luật áp dụng để giải quyết là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chứ không phải là BLDS.

Câu 22: Mối quan hệ trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người làm công, học nghề gây ra?

Đáp án:

Các mối quan hệ trong trường hợp này gồm:

– Quan hệ giữa người làm công, người học nghề với cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác có sử dụng người làm công, người học nghề đó

– Quan hệ giữa cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác có sử dụng người làm công, người học nghề đó với người bị thiệt hại.

– Quan hệ giữa người làm công, người học nghề với người bị hại.

Câu 23: Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người làm công, học nghề gây ra?

Đáp án:

Điều 600 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”

Cá nhân, tổ chức hoặc chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại đó chính là hậu quả của việc thực hiện việc làm công hoặc công việc học nghề được giao gây ra. Nếu thiệt hại xảy ra không liên quan đến công việc làm công, đến việc học nghề được giao thì cá nhân, tổ chức hoặc chủ thể khác thuê người làm công, có người học nghề sẽ không phải bồi thường thiệt hại.

Nếu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại thì cá nhân, tổ chức hoặc chủ thể khác giao công việc cho người làm công, người học nghề có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề phải hoàn trả một khoản tiền nhất định.

Việc xem xét số tiền hoàn trả sẽ căn cứ vào mức độ lỗi của người làm công, người học nghề cũng như căn cứ vào hợp đồng được kí kết giữa người làm công, người học nghề với cá nhân, tổ chức hoặc chủ thể khác đã thuê người làm công, đào tạo nghề đó. Nếu trong hợp đồng làm công, đào tạo nghề các bên không thỏa thuận về số tiền hoàn trả thì việc xem xét mức hoàn trả được giải quyết theo quy định pháp luật.

Câu 24: Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Đáp án:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được xác định cụ thể như sau:

– Thiệt hại phải do chính nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Ví dụ: xe ô tô đang vận hành bị mất phanh, nổ lốp,.. thú đang biểu diễn xiếc thì nhảy ra gây thiệt hại cho khán giả,..

– Chủ thể phải bồi thường thiệt hại: Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ ( cho thuê, mượn,..) phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra kể cả khi không có lỗi.

Câu 25: Trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Đáp án:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được loại trừ nếu xuất hiện một trong các lí do sau:

– Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại: lao vào ô tô tự tử, bị thiệt hại trong hành lang an toàn đường sắt như thiệt hại đối với súc vật thả rông, người qua lại,..

– Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

Câu 26: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Đáp án:

Nguồn nguy hiểm cao độ là loại tài sản đặc biệt luôn tiềm ẩn khả năng gây ra thiệt hại cho những người xung quanh, cho nên việc bảo quản, vận hành, sản xuất phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt về an toàn kĩ thuật, trình tự, quy trình vận hành khai thác chúng.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định đối với chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại kể cả trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu trái pháp luật. 

Khoản 4 Điều 601 BLDS quy định:

– Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

– Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Câu 27: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể?

Đáp án:

Đây là trường hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi đối tượng bị thiệt hại không phải người còn sống mà là người đã chết ( thi thể).

Người gây thiệt hại chiếm đoạt một bộ phận trong thi thể của người đã chết với các mục đích khác nhau mà không được sự đồng ý của chính người đó khi còn sống hoặc đại diện gia đình người chết.

Theo quy định tại ĐIều 606 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.

+ Thiệt hại do xâm phạm thi thể:

Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Đây là chi phí thực tế mà gia đình người bị thiệt hại đã bỏ ra để hạn chế, khắc phục thiệt hại như các chi phí cho việc tìm kiếm thi thể (bộ phận của thi thể), chi phí giám định, xét nghiệm, chi phí trong việc bảo quản, vận chuyển,…

Ngoài những chi phí cho việc hạn chế, khắc phục thiệt hại thì người gây thiệt hại do hành vi xâm phạm thi thể phải bồi thường 1 khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết như cha, mẹ, vợ, chồng, con của người chết. Nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này.

Việc xác định mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Câu 28: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả?

Đáp án:

Mồ mả là nơi chôn cất người chết. Việc chôn cất được thực hiện theo phong tục tập quán. Mỗi địa phương có cách thức xây mồ mả hoặc cất giữ hài cốt của người chết khác nhau cho nên chi phí khác nhau. Vì vậy, khi có hành vi vi phạm cần phải tính đến các yếu tố tập quán.

Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Câu 29: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra?

Đáp án:

  1. Trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu cây cối:

Theo Điều 604 Bộ luật dân sự 2015: Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.

Thông thường, khi chủ sở hữu đang trực tiếp quản lý, sử dụng cây cối mà cây cối gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu đã chuyển giao cho người khác quản lý cây cối thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại, nếu giữa chủ sở hữu và người được giao quyền quản lý cây cối có thỏa thuận.

Pháp luật Việt Nam không đưa ra một nguyên tắc cụ thể nào cho việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu cây cối. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định pháp luật có liên quan, có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu cây cối dựa trên một số nguyên tắc như:

– Nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu. Theo nguyên tắc này, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi đối tài sản của mình, nhưng khi tài sản gây thiệt hại thì phải bồi thường;

– Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự. Theo nguyên tắc này, nếu chủ sở hữu cây cối không thực hiện nghĩa vụ phát rễ, tỉa cành, chặt hạ cây có nguy cơ đổ, gẩy… theo quy định tại khoản 2 Điều 175 và khoản 1 Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015 mà cây cối gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường;

– Nguyên tắc thỏa thuận, tức là giữa chủ sở hữu cây cối và người được giao quản lý cây cối có thể thỏa thuận về việc chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra kể cả trong trường hợp cây cối đang do người đó quản lý.

  1. Trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối:

Đây là hai loại chủ thể mới được bổ sung vào Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015. Như đã phân tích ở trên, đây là sự thay đổi phù hợp với thực tể và phù hợp với lẽ công bằng. Tuy nhiên, liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối, có một số vấn đề như sau:

Một là, chiếm hữu được hiểu là “nắm giữ và quản lý tài sản” tức là khái niệm “chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “quản lý”. Mặc dù, Bộ luật dân sự không đưa ra các khái niệm cụ thể, nhưng suy cho cùng khái niệm “người chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “người được giao quản lý”. Bởi vì, người chiếm hữu bao gồm người chiếm hữu có căn cứ pháp luật và người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Hơn nữa, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể xác định người được giao quản lý tài sản là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật đối với tài sản được giao. Như vậy, việc sử dụng cả cụm từ “người chiếm hữu” và cụm từ “người được giao quản lý” để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không cần thiết và thể hiện sự lặp đi lặp lại các thuật ngữ có cùng nội dung.

Hai là, người chiếm hữu cây cối có thể là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật (bao gồm cả người được giao quản lý) hoặc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Đối với hai loại người chiếm hữu này, Bộ luật dân sự không có quy định riêng biệt về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi cây cối mà họ chiếm hữu gây thiệt hại. Tức là nếu cây cối họ đang chiếm hữu mà gây thiệt hại thì họ phải bồi thường thiệt hại bất kể họ có lỗi hay không có lỗi đối với thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, điều này chỉ phù hợp với trường hợp người chiếm hữu cây cối là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, bởi vì bản thân người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật luôn luôn bị coi là có lỗi trong việc chiếm hữu.

Câu 30: Trách nhiệm bồi thường do súc vật gây ra của chủ sở hữu khi đang trực tiếp quản lý?

Đáp án:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cũng có thể thuộc về chủ sở hữu, về người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật, về người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật. Tuy nhiên, khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra còn có thể là người thứ ba có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác.

– Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật được thể hiện như sau:

Căn cứ vào từng trường hợp súc vật gây thiệt hại mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu lại được xác định khác nhau.

Đối với trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp quản lý, sử dụng súc vật mà súc vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường, bất kể chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật hay không.

Điều này được thể hiện cụ thể trong quy định tại khoản 1 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015. “Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

  1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Cũng giống như đối với trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, chủ sở hữu là súc vật người được thực hiện các quyền năng đối với súc vật, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức mà súc vật mang lại, quyền chiếm hữu, sử dụng súc vật. Do đó, theo lẽ công bằng, thì khi súc vật gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật cũng xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng và hưởng hưởng lợi ích mà súc vật mang lại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra đối với người bị thiệt hại, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu với người bị thiệt hại có thỏa thuận khác về mức bồi thường.

Câu 31: Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý?

Đáp án:

Điều 599. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý

  1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
  2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
  3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường

Đối với trường hợp người đủ 15 tới 18 tuổi nếu có tài sản riêng thì họ có thể tự mình xác lập các giao dịch dân sự mà nghĩa vụ của nó cho phép thực hiện trong phạm vi tài sản của họ, do vậy trường hợp họ gây ra thiệt hại họ có trách nhiệm dùng tài sản riêng đó của mình để thực hiện bồi thường thiệt hại, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì khi đó cha, mẹ mới phải bồi thường bằng tài sản còn thiếu của mình. Có sự khác biệt so với trường hợp trên là do những người này cũng đã có nhận thức được một phần về hành vi của mình nhưng chưa đầy đủ nên việc pháp luật quy định như vậy nhằm đảm bảo những đối tượng này cần phải cân nhắc và có trách nhiệm đối với hành vi của chính bản thân họ.

Trường hợp người chưa thành niên gây ra thiệt hại không còn cha mẹ thì người giám hộ của họ có trách nhiệm được dùng tài sản của người chưa thành niên (nếu có) để bồi thường, còn người chưa thành niên không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của c(trừ trường hợp người giám hộ chứng minh được họ không có lỗi trong việc giám hộ người gây thiệt hại).

Câu 32: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra?

Đáp án:

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.

Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.

Câu 33: Trình bày quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng?

Đáp án:

Bộ luật Dân sự 2015 xác định, chủ thể của quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng bao gồm chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó cho người tiêu dùng, dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng và chủ thể được bồi thường thiệt hại. Do đó, theo như quy định tại Điều 608 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.”

– Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự . Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong Bộ luật Dân sự ở Điều 528 và Chương XVI và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự.

– Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra , có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự ( nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng ), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại ( không phải là điều kiện bắt buộc ) . Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra .

– Về hậu quả của hành vi gây thiệt hại cho người tiêu dùng: đây được xem là việc mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hai cho người tiêu dùng về mặt vật chất và tình thần. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người tiêu dùng thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền. Mặt khác, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng việc bồi thường tổn thất về mặt tinh thần cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người tiêu dùng bị thiệt hại trong quá trình giao kết các giao dịch dân sự và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.

Câu 34: Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường?

Đáp án:

Theo Điều 602 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường có nội dung như sau: “Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi.”

Ngoài ra, theo Điều 164 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường có nội dung như sau:

“1. Ô nhiễm môi trường và hậu quả do ô nhiễm môi trường phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, điều tra và kết luận kịp thời.

  1. Hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường của tổ chức, cá nhân phải được phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.
  2. Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân được quy định như sau:
  3. a) Người đứng đầu trực tiếp của tổ chức phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động của tổ chức mình;
  4. b) Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra;
  5. c) Trường hợp cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường do thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao thì tổ chức phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.”

Câu 35: Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân gây ô nhiễm môi trường?

Đáp án:

Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân gây ô nhiễm môi trường được quy định tại Khoản 3 Điều 164 Luật bảo vệ môi trường 2014 như sau:

– Các chủ thể là người đứng đầu trực tiếp của tổ chức phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động của tổ chức mình theo quy định của pháp luật.

– Đối với các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.

– Trong trường hợp cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường do thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao thì tổ chức phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đánh giá *